Virus Epstein–Barr

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Epstein–Barr
Epstein Barr Virus virions EM 10.1371 journal.pbio.0030430.g001-L.JPG
Two Epstein–Barr virions
Phân loại virus
Nhóm: Nhóm I (dsDNA)
Bộ (ordo) Herpesvirales
Họ (familia) Herpesviridae
Phân họ (subfamilia) Gammaherpesvirinae
Chi (genus) Lymphocryptovirus
Loài (species) Human herpesvirus 4 (HHV-4)
Synonyms
  • EB virus

Virus Epstein-Barr (EBV), còn được gọi là herpesvirus 4 (HHV-4) của con người, là một trong tám loại virut gây bệnh herpes của con người trong họ herpes, và là một trong những loại virus phổ biến nhất ở người. 

Nó được biết đến như là nguyên nhân của mononucleosis truyền nhiễm (sốt tuyến huyết). Nó cũng có liên quan với các dạngung thư đặc biệt, như lymphô Hodgkin, lymphô Burkitt, ung thư dạ dày, ung thư biểu mô vòm họng và các điều kiện liên quan đến virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) như bạch cầu lông và  lympho hệ thống thần kinh trung ương[1][2]. Có bằng chứng cho thấy nhiễm EBV có liên quan đến nguy cơ cao về một số bệnh tự miễn, [3]đặc biệt là viêm da, lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, hội chứng Sjögren[4][5] và chứng đa xơ cứng[6]. Khoảng 200.000 trường hợp ung thư mỗi năm được cho là do EBV.

Nhiễm trùng EBV xảy ra khi truyền nước bọt và tiết chất tiết ra.  [7]

Hầu hết mọi người bị nhiễm EBV và được miễn dịch thích ứng. Ở Hoa Kỳ, khoảng 20-80% số trẻ em năm tuổi và hơn 90% người lớn trên 35 tuổi có dấu hiệu nhiễm trùng trước đó.[8] Trẻ sơ sinh dễ bị EBV ngay khi cơ thể kháng thể bảo vệ biến mất. Nhiều trẻ em bị nhiễm EBV, và các chứng nhiễm trùng này thường không gây triệu chứng hoặc không thể phân biệt được với các bệnh nhẹ khác. Ở Hoa Kỳ và các nước phát triển khác, nhiều người không bị nhiễm EBV khi họ là trẻ nhỏ.[9] Khi nhiễm EBV xảy ra ở tuổi vị thành niên, nó gây ra mononucleosis truyền nhiễm từ 35 đến 50 phần trăm thời gian.[10]

EBV lây nhiễm cáctế bào B của hệ miễn dịch và các tế bào biểu mô. Khi nhiễm trùng lytic ban đầu của EBV được kiểm soát, độ trễ EBV vẫn tồn tại trong tế bào B của cá nhân trong suốt cuộc đời còn lại của một người.

Dấu hiệu và triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Như đã đề cập trước đây, có ít hoặc không có triệu chứng đáng chú ý khi một người mắc phải EBV ở giai đoạn thanh thiếu niên nhưng khi EBV bị nhiễm với người lớn nó có thể gây ra mệt mỏi, sốt, viêm họng, sưng hạch bạch huyết ở cổ, lách to, sưng lên gan, hoặc phát ban.[11]

Vi rút học[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ đồ cấu trúc đơn giản của EBV

Cấu trúc và bộ gen[sửa | sửa mã nguồn]

 Virus có đường kính khoảng 122-180 nm và bao gồm một chuỗi xoắn képDNA, chứa khoảng 172.000 cặp base và 85 gen. DNA bao quanh bởi một nucleocapsid protein. Chất nucleocideid này được bao quanh bởi một chất làm bằng protein, và được bao bọc bởi một bao thư có chứa cả lipid và các dự báo bề mặt của các glycoprotein vốn rất cần thiết cho sự nhiễm trùng của tế bào chủ.

Vòng tái tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng tái tạo của EBV

Xâm nhập tế bào[sửa | sửa mã nguồn]

EBV có thể nhiễm cả tế bào B và tế bào biểu mô. Cơ chế để nhập hai ô này là khác nhau. 

Để vào tế bào B, glycoprotein của virus gp350 liên kết với thụ thể tế bào CD21 (còn gọi là CR2)[12]. Sau đó, glycoprotein của virus gp42 tương tác với các phân tử di động MHC class II. Điều này gây nên sự kết hợp của phong bì virut với màng tế bào, cho phép EBV nhập vào tế bào B. Người CD35, còn được gọi là thụ thể bổ sung 1 (CR1), là một yếu tố gắn kết bổ sung cho gp350 / 220 và có thể cung cấp một đường dẫn để đưa EBV vào các tế bào âm tính CD21, bao gồm các tế bào B chưa trưởng thành. Nhiễm vi khuẩn EBV giảm sự biểu hiện của CD35[13].  

Để vào các tế bào biểu mô, protein của virus BMRF-2 tương tác với sự tích hợp β1 của tế bào. Sau đó, protein của virus gH / gL tương tác với sự tích hợp αvβ6 / αvβ8 của tế bào. Điều này gây nên sự kết hợp của vỏ virus với màng tế bào biểu mô, cho phép EBV vào tế bào biểu mô. Không giống như sự xâm nhập của tế bào B, sự xâm nhập của tế bào biểu mô bị cản trở bởi glycoprotein của virus gp42. 

Một khi EBV vào tế bào, capsid virus tan và bộ gen của virus được vận chuyển đến nhân tế bào.

Kích hoạt lại[sửa | sửa mã nguồn]

EBV tiềm ẩn trong tế bào B có thể được kích hoạt lại để chuyển sang nhân bản lytic. Điều này được biết là xảy ra trong cơ thể, nhưng những gì gây nên nó không được biết chính xác. Trong ống nghiệm, EBV tiềm ẩn ở tế bào B có thể được kích hoạt lại bằng cách kích thích thụ thể tế bào B, do đó sự tái hoạt hóa trong cơ thể có thể xảy ra khi các tế bào B bị nhiễm tiềm ẩn trước các nhiễm trùng không liên quan. Trong ống nghiệm, EBV tiềm ẩn ở tế bào B cũng có thể được kích hoạt lại bằng cách điều trị các tế bào với natri hoặc TPA.

Vai trò trong bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

 EBV có liên quan đến một số bệnh, bao gồm mononucleosis truyền nhiễm[14], lympho Burkitt[15], lymphô Hodgkin,[16] ung thư dạ dày[17], ung thư biểu mô vòm họng[18], đa xơ cứng[19] và u hạt lymphomatoid[20]. Các bệnh khác có liên quan đến EBV bao gồm hội chứng Gianotti-Crosti, hồng ban đa dạng, loét sinh dục cấp tính, leukoplakia lông miệng.[21] Mẫn cảm với muỗi đã có liên quan đến nhiễm trùng EBV. 

Vi rút Epstein-Barr đã liên quan đến các rối loạn liên quan đến sự kết hợp alpha-synuclein (ví dụ bệnh Parkinson, chứng sa sút trí tuệ với các cơ quan Lewy, và teo hệ thống nhiều lần).[22]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vi rút Epstein-Barr được đặt tên theo Michael Anthony Epstein (sinh ngày 18 tháng 5 năm 1921), hiện nay là giáo sư danh dự tại Đại học Bristol, và Yvonne Barr (1932-2016), Tiến sĩ Tiến sĩ năm 1966 đến từ Đại học London, người cùng nhau phát hiện [23]và, vào năm 1964, công bố về sự tồn tại của virus[24]. Năm 1961, Epstein, nhà nghiên cứu bệnh lý học và chuyên gia về kính hiển vi điện tử, đã tham dự bài thuyết trình về "Bệnh ung thư trẻ em thường gặp nhất ở châu Phi nhiệt đới-Hội chứng Hitherto Unrecognized". Bài thuyết trình của Denis Parsons Burkitt, một bác sỹ phẫu thuật tập ở Uganda, là mô tả của "biến thể lưu hành" (dạng nhi khoa) mang tên ông. Năm 1963, một mẫu bệnh phẩm được gửi từ Uganda đến Bệnh viện Middlesex được nuôi cấy. Các hạt virus được xác định trong các tế bào nuôi cấy, và các kết quả đã được công bố trong The Lancet vào năm 1964 bởi Epstein, Bert Achong và Barr. Các dòng tế bào được gửi tới Werner và Gertrude Henle tại Bệnh viện Nhi ở Philadelphia, người đã phát triển cáchuyết thanh học. Năm 1967, một kỹ thuật viên trong phòng thí nghiệm phát triển chứng mononucleosis và họ có thể so sánh một mẫu huyết thanh được lưu giữ, cho thấy rằng các kháng thể phát triển. [25][26][27]Vào năm 1968, họ phát hiện ra rằng EBV có thể trực tiếp làm chết tế bào B sau nhiễm trùng, bắt chước một số dạng nhiễm trùng liên quan đến EBV, [28]và xác nhận mối liên hệ giữa virút và mononucleosis lây nhiễm.[29]

Nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Là một loại virus tương đối phức tạp, EBV vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Các phòng thí nghiệm trên thế giới tiếp tục nghiên cứu virus và phát triển những cách mới để điều trị các căn bệnh do nó gây ra. Một cách phổ biến để nghiên cứu EBV trong ống nghiệm là sử dụng nhiễm sắc thể nhân tạo vi khuẩn. [30]Vi rút Epstein-Barr có thể được duy trì và thao tác trong phòng thí nghiệm với độ trễ liên tục. Mặc dù nhiều virus được cho là có mặt trong quá trình lây nhiễm các vật chủ tự nhiên, không có một hệ thống quản lý dễ dàng để nghiên cứu phần này của vòng đời virus. Các nghiên cứu về bộ gen của EBV đã có thể khám phá sự tái hoạt hóa của lytic và sự điều tiết của các virus episome tiềm ẩn.[31]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Epstein–Barr virus vaccine
  • Epstein–Barr virus infection
  • James Corson Niederman, the physician who proved how the Epstein–Barr virus is transmitted in infectious mononucleosis
  • Transcriptome and epigenome of EBV

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ . doi:10.1007/s11604-008-0291-2.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  2. ^ Chú thích trống (trợ giúp) 
  3. ^ . doi:10.1016/j.berh.2008.09.007.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  4. ^ . doi:10.1016/j.autrev.2011.08.005.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  5. ^ . doi:10.1155/2012/189096.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  6. ^ . doi:10.1007/s11481-010-9201-3.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  7. ^ . doi:10.1002/rmv.456.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  8. ^ Henry H. Balfour, Jr, Frangiscos Sifakis, Joseph A. Sliman, Jennifer A. Knight, David O. Schmeling, William Thomas (16 tháng 10 năm 2013). “Age-Specific Prevalence of Epstein–Barr Virus Infection Among Individuals Aged 6–19 Years in the United States and Factors Affecting Its Acquisition”. The Journal of Infectious Diseases 208 (8): 1286–1293. 
  9. ^ ACP. “Epstein-Barr Virus Infections: Biology, Pathogenesis, and Management.”. ACP. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017. 
  10. ^ CDC. “Epstein–Barr Virus and Infectious Mononucleosis”. CDC. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2011. 
  11. ^ "About Epstein–Barr Virus (EBV)." Centers for Disease Control and Prevention. Centers for Disease Control and Prevention, 14 Sept. 2016. Web. 23 Oct. 2016.
  12. ^ “Entrez Gene: CR2 complement component (3d/Epstein Barr virus) receptor 2”. 
  13. ^ . doi:10.1016/j.celrep.2013.01.023.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  14. ^ . doi:10.1038/modpathol.2012.176.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  15. ^ . doi:10.1186/1750-9378-9-34.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  16. ^ . doi:10.1111/j.1365-2141.2004.04902.x.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  17. ^ “Developing a vaccine for the Epstein–Barr Virus could prevent up to 200,000 cancers globally say experts”. 
  18. ^ . doi:10.1002/hed.23318.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  19. ^ . doi:10.1212/WNL.0000000000001420.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  20. ^ Chú thích trống (trợ giúp) 
  21. ^ . doi:10.1111/j.1365-4632.2012.05855.x.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  22. ^ . doi:10.1212/WNL.55.9.1398.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  23. ^ http://www.bbc.co.uk/news/health-26857610.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  24. ^ . doi:10.1016/s0140-6736(64)91524-7.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  25. ^ . ISBN 1-904455-03-4 https://books.google.com/books?id=TRO-wXto8hcC.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  26. ^ . ISBN 978-1-904455-03-5 https://books.google.com/books?id=TRO-wXto8hcC.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  27. ^ . doi:10.1056/NEJMbkrev39523.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  28. ^ . doi:10.1111/j.1749-6632.1980.tb27975.x.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  29. ^ Chú thích trống (trợ giúp) 
  30. ^ . doi:10.1016/j.semcancer.2008.09.001.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  31. ^ . doi:10.1016/j.chom.2012.06.008.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)