Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.

Voi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Voi
Thời điểm hóa thạch: Pliocene–Present
Một con voi đồng cỏ châu Phi cái tại Công viên Quốc gia Mikumi, Tanzania
Phân loại khoa học
Các nhóm gộp vào
Các nhóm loại ra

Voi là động vật có vú thuộc họ Elephantidae (cận ngành) và là động vật trên cạn lớn nhất hiện nay. Ba loài hiện được công nhận: voi đồng cỏ châu Phi, voi rừng châu Phivoi châu Á. Elephantidae là nhánh duy nhất còn sót lại của bộ Proboscidea; thành viên tuyệt chủng bao gồm voi răng mấu. Elephantidae cũng bao gồm một số nhóm hiện đã tuyệt chủng, bao gồm cả voi ma mútvoi ngà thẳng. Voi châu Phi có tai lớn và lưng lõm, trong khi voi châu Á có tai nhỏ và lưng lồi hoặc ngang. Đặc điểm nổi bật của tất cả các loài voi bao gồm thân dài, ngà, vạt tai lớn, chân to và làn da dày nhưng nhạy cảm. Vòi voi được sử dụng để thở, đưa thức ăn và nước vào miệng và nắm lấy đồ vật. Đôi ngà, tiến hóa từ răng cửa, chức năng làm vũ khí và công cụ để di chuyển chướng ngại vật và đào hố. Hai cái tai lớn duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định và dùng để giao tiếp. Chân to như cây cột giúp tải trọng lượng lớn.

Voi phân bố rải rác khắp châu Phi cận Sahara, Nam ÁĐông Nam Á và ở các môi trường sống khác nhau, bao gồm thảo nguyên, rừng, sa mạc và đầm lầy. Chúng là động vật ăn cỏ, và sống gần nguồn nước. Chúng được coi là loài chủ chốt, do tác động đáng kể lên môi trường sống của chúng. Những động vật khác có xu hướng giữ khoảng cách với voi; ngoại lệ là những kẻ săn mồi như sư tử, hổ, linh cẩuchó hoang, thường chỉ nhắm đến những con voi non. Voi có một xã hội phân hạch-hợp hạch, trong đó nhiều nhóm gia đình kết hợp với nhau để giao tiếp. Con cái có xu hướng sống trong các nhóm gia đình, có thể bao gồm một con cái với các con non của nó hoặc một số con cái có quanh hệ họ hàng. Các nhóm, không bao gồm con đực, được dẫn dắt bởi con cái già nhất, theo hình thức mẫu hệ.

Những con đực bị đuổi khỏi nhóm gia đình khi đến tuổi dậy thì và có thể sống đơn độc hoặc tạo nhóm với những con đực khác. Voi đực trưởng thành chủ yếu tương tác với các nhóm gia đình khi tìm kiếm bạn đời. Voi đực sẽ có giai đoạn gia tăng testosterone và cực kỳ bạo lực được gọi là musth, hành vi thể hiện sự thống trị cúa một con đực với những con đực khác cũng như thành công về mặt sinh sản. Con non là trung tâm của sự chú ý trong các nhóm gia đình và phải phụ thuộc vào mẹ của chúng trong ba năm. Voi có thể thọ 70 tuổi trong tự nhiên. Chúng giao tiếp bằng xúc giác, thị giác, khứu giác và âm thanh; voi sử dụng sóng hạ âm, và giao tiếp địa chấn để viễn thông. Trí thông minh của voi được so sánh với các loài linh trưởng và bộ cá Voi. Chúng dường như có sự tự nhận thức, và thể hiện sự đồng cảm với những thành viên hấp hối hoặc đã chết.

Voi châu Phi thuộc diện sắp nguy cấp và voi châu Á thuộc diện bị đe dọa bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với quần thể voi là buôn bán ngà voi, các hành vi săn trộm để lấy ngà voi. Các mối đe dọa khác đối với voi hoang dã bao gồm môi trường sống triệt thoái và xung đột với người địa phương. Voi được sử dụng làm súc vật thồ ở châu Á. Trong quá khứ, chúng cũng được sử dụng trong chiến tranh; ngày nay, chúng thường được trưng bày trong các sở thú, hoặc được huấn luyện để giải trí trong các rạp xiếc. Voi là một biểu tượng rất nổi tiếng và đặc trưng trong nghệ thuật, văn hóa dân gian, tôn giáo, văn học và văn hóa đại chúng của loài người.

Hệ thống phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Afrotheria
Afroinsectiphilia
Tubulidentata

Orycteropodidae Aardvark2 (PSF) colourised.png

Afroinsectivora
Macroscelidea

Macroscelididae Rhynchocyon chrysopygus-J Smit white background.jpg

Afrosoricida

Chrysochloridae The animal kingdom, arranged according to its organization, serving as a foundation for the natural history of animals (Pl. 18) (Chrysochloris asiatica).jpg

Tenrecidae Brehms Thierleben - Allgemeine Kunde des Thierreichs (1876) (Tenrec ecaudatus).jpg

Paenungulata
Hyracoidea

Procaviidae DendrohyraxEminiSmit white background.jpg

Tethytheria
Proboscidea

Elephantidae Elephant white background.png

Sirenia

Dugongidae Dugong dugon Hardwicke white background.jpg

Trichechidae Manatee white background.jpg

Biểu đồ nhánh của voi trong liên bộ Afrotheria dựa trên bằng chứng phân tử[1]
Proboscidea

early proboscideans, e.g. Moeritherium Moeritherium NT small.jpg

Deinotheriidae Deinotherium12.jpg

Elephantiformes

Mammutidae BlankMastodon.jpg

Gomphotheriidae Gomphotherium NT small.jpg

Stegodontidae Stegodon Siwalik Hills.jpg

Elephantidae

Loxodonta Elephant in Tanzania 0882 Nevit.jpg

Mammuthus Mammuthus trogontherii122DB.jpg

Elephas Elephas maximus (Bandipur).jpg

Cây phát sinh chủng loại bộ Proboscidea dựa trên cấu hình của răng hàm.[2]
Elephantimorpha
Elephantidae

Mammuthus primigenius Woolly mammoth model Royal BC Museum in Victoria.jpg

Mammuthus columbi Archidiskodon imperator121.jpg

Elephas maximus Elephas maximus (Bandipur).jpg

Loxodonta cyclotis African Forest Elephant.jpg

Palaeoloxodon antiquus Elephas-antiquus.jpg

Loxodonta africana Elephant in Tanzania 0882 Nevit.jpg

Mammut americanum BlankMastodon.jpg

Cây phát sinh chủng loại của voi hiện đại và các họ hàng đã tuyệt chủng dựa trên nghiên cứu phân tử[3]

Voi thuộc họ Elephantidae, họ duy nhất còn lại trong bộ Proboscidea thuộc liên bộ Afrotheria. Họ hàng gần nhất của chúng là bộ Bò biển (cá cúilợn biển) và bộ Đa man, cùng nhánh Paenungulata trong liên bộ Afrotheria.[4] Voi và Bò biển được nhóm lại trong nhánh Tethytheria.[5]

Ba loài voi được công nhận; voi đồng cỏ châu Phi (Loxodonta africana) và voi rừng (Loxodonta cyclotis) của châu Phi cận Sahara và voi châu Á (Elephas maximus) của Nam và Đông Nam Á.[6] Voi châu Phi có đôi tai lớn hơn, lưng lõm, da nhăn hơn, bụng dốc và hai phần mở rộng giống như ngón tay ở đầu vòi. Voi châu Á có đôi tai nhỏ hơn, lưng lồi hoặc ngang, da mịn hơn, bụng ngang thỉnh thoảng bị phệ xuống ở giữa và một phần mở rộng ở đầu vòi. Các đường gờ tại răng hàm hẹp hơn ở voi châu Á trong khi voi châu Phi có hình kim cương. Voi châu Á cũng có những bưới lồi trên lưng và một số vết phi sắc tố hóa trên da.[7]

Trong số những loài voi châu Phi, voi rừng có đôi tai nhỏ và tròn hơn và ngà mỏng hơn và thẳng hơn so với voi đồng cỏ và phân bố chỉ trong phạm vi các khu vực có rừng ở phía tây và Trung Phi.[8] Theo truyền thống, các voi châu Phi được coi là cùng một loài Loxodonta africana, nhưng các nghiên cứu phân tử đã ủng hộ tính riêng biệt trên.[9][10][11] Năm 2017, phân tích trình tự DNA cho thấy L. cyclotis có quan hệ gần gũi hơn với loài Palaeoloxodon antiquus đã tuyệt chủng, so với L. africana. Phát hiện này có thể làm sụp đổ toàn bộ chi Loxodonta.[12]

Họ hàng đã tuyệt chủng và tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Hơn 180 thành viên đã tuyệt chủng và ba phát xạ tiến hóa lớn của bộ Proboscidea đã được xác định.[13] Các proboscid sớm nhất, chi EritheriumPhosphatherium của thế Paleocene muộn, là dấu hiệu cho sự kiện phát xạ đầu tiên.[14] Thế Eocene có các chi Numidotherium, MoeritheriumBarytherium từ Châu Phi. Những con vật này tương đối nhỏ và sống dưới nước. Sau đó, các chi như PhiomiaPalaeomastodon phát sinh; có khả năng sinh sống ở các khu rừng gỗ và rừng mở. Sự đa dạng của các proboscidean bị sụt giảm trong thế Oligocene.[15] Một loài đáng chú ý của giai đoạn này là Eritreum melakeghebrekristosi của vùng Sừng châu Phi, có thể là tổ tiên của một số loài sau này.[16] Sự khởi đầu của thế Miocene bao gồm ​​sự đa dạng hóa thứ hai, với sự xuất hiện của các deinotheremammutid.

Phát xạ thứ hai được thể hiện bằng sự xuất hiện của các gomphothere trong thế Miocene,[17] có khả năng phát sinh từ chi Eritreum[16] và có nguồn gốc từ Châu Phi, lan rộng đến mọi châu lục trừ Úc và Nam Cực. Các thành viên của nhóm này bao gồm GomphotheriumPlatybelodon.[17] Phát xạ thứ ba bắt nguồn vào cuối thế Miocen và dẫn đến sự xuất hiện của những elephantid, dần dần thay thế, các gomphothere.[18] Primelephas gomphotheroides của Châu Phi đã sinh ra các chi Loxodonta, MammuthusElephas. Loxodonta phân nhánh sớm nhất quanh ranh giới thế Miocene và Pliocene trong khi MammuthusElephas rẽ nhánh muộn hơn trong thế Pliocene sớm. Loxodonta ở lại Châu Phi trong khi MammuthusElephas lan sang đại lục địa Á-Âu, và sang tận Bắc Mỹ. Đồng thời, các stegodontid, một nhóm proboscidean khác có nguồn gốc gomphothere, bành trướng khắp châu Á, bao gồm cả tiểu lục địa Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á và Nhật Bản. Mammutid tiếp tục phát triển thành các loài mới, chẳng hạn như voi răng mấu của Mỹ.[19]

Vào thời điểm thế Canh Tân bắt đầu, elephantid có tỷ lệ phân loài cao.[20] Giai đoạn này cũng chứng kiến ​​sự xuất hiện của Palaeoloxodon namadicus, động vật có vú trên cạn lớn nhất mọi thời đại.[21] Loxodonta atlantica đã trở thành loài phổ biến nhất ở miền bắc và miền nam châu Phi nhưng bị thay thế bởi loài Elephas iolensis sau này. Chỉ khi Elephas biến mất khỏi Châu Phi, Loxodonta mới trở nên thống trị một lần nữa, lần này là ở dạng của loài hiện đại. Voi đa dạng thành các loài mới ở châu Á, chẳng hạn như E. hysudricusE. platycephus;[22] là tổ tiên của voi châu Á hiện đại.[20] Mammuthus tiến hóa thành một số loài, bao gồm cả voi ma mút lông xoắn nổi tiếng.[22] Sự giao phối liên loài dường như khá phổ biến giữa các loài voi, trong một số trường hợp dẫn đến các loài có ba thành phần di truyền tổ tiên, chẳng hạn như Palaeoloxodon antiquus.[3] Vào cuối thế Canh Tân, hầu hết các loài proboscidean đã biến mất trong cuộc băng hà Đệ tứ giết chết 50% các chi có trọng lượng trên 5 kg (11 lb) toàn cầu.[23]

Prooscidean trải qua nhiều xu hướng tiến hóa, chẳng hạn như tăng kích thước, dẫn đến nhiều loài khổng lồ cao tới 5 m.[21] Cũng như các loài động vật lớn ăn cỏ khác, bao gồm cả khủng long chân thằn lằn đã tuyệt chủng, kích thước lớn của voi cho phép chúng sống sót trên thảm thực vật với giá trị dinh dưỡng thấp.[24] Chi vận động của chúng dài ra và bàn chân ngắn và rộng hơn.[2] Chúng ban đầu đi băng cả bàn chân nhưng rồi phát triển thành đi bằng đầu ngón với các miếng đệm chân và xương vừng hỗ trợ.[25] Các proboscid sớm đã phát triển hàm dưới dài hơn và mái sọ nhỏ hơn trong khi các loài tiến tiến hơn phát triển hàm dưới ngắn hơn, làm dịch chuyển trọng tâm của đầu. Hộp sọ ngày càng lớn, đặc biệt là mái sọ, trong khi cổ rút ngắn để cung cấp hỗ trợ tốt hơn cho hộp sọ. Sự gia tăng kích thước dẫn đến sự phát triển và kéo dài của vòi di động cung cấp tầm với. Số lượng răng hàm, răng cửa và răng nanh giảm.[6] Răng má (răng hàm và răng tiền hàm) trở nên to hơn và chuyên biệt hơn, đặc biệt là sau khi voi bắt đầu chuyển từ tiêu thụ cây cỏ C3 sang cỏ C4, khiến răng của chúng trải qua sự gia tăng gấp ba lần chiều cao cũng như sự nhân lên đáng kể của phiến mỏng sau khoảng năm triệu năm trước. Trong một triệu năm gần đây, chúng mới quay trở lại chế độ ăn chủ yếu bao gồm cây C3 và cây bụi.[26][27] Các răng cửa thứ hai phía trên mọc thành ngà, có hình dạng khác nhau từ thẳng, cong (lên hoặc xuống), xoắn ốc, tùy thuộc vào loài. Một số proboscidean đã phát triển ngà từ răng cửa dưới của chúng.[2] Voi giữ lại một số đặc điểm từ tổ tiên của chúng, chẳng hạn như cấu tạo giải phẫu tai giữa của chúng.[28]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Voi có bốn chân lớn để có thể chịu được trọng lượng cơ thể nặng. Đầu to, có vòi và ngà. Ngà voi là do hai răng cửa hàm trên biến thành, được dùng để trưng diễn, tự vệ và đào đất kiếm ăn. Răng hàm kiểu mào để nghiền thức ăn. Tai to, vẫy được để quạt mát hoặc giao tiếp. Máu được làm mát đi khi lưu chuyển qua tai chúng. Voi cái có một đôi vú ở ngực giữa hai chân trước.

Voi chủ yếu đi lại bằng đầu ngón chân, gót chân nhấc khỏi mặt đất. Xương bàn chân được bảo vệ bởi một lớp đệm gan bàn chân phẳng và dày chứa các sợi đàn hồi giúp bàn chân của chúng bè ra chống đỡ sức nặng của cơ thể và đi lại không gây ra tiếng động.

Vòi[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như trọng lượng của nó, 2 thứ làm cho voi khác với các loài động vật khác là vòi và ngà voi. Vòi là mũi của voi, nó không có xương sống nhưng lại có các mô cơ và có 1 hoặc 2 mô cơ giống như ngón tay ở đầu vòi. Vòi được dùng để thở, uống nước bằng cách hút nước lên rồi thổi vào miệng. Vòi có tới 4 vạn cơ bắp nên rất khéo léo, nó cũng có thể được dùng như cánh tay, đủ sức bẻ cành cây để ăn lá hoặc khéo léo bẻ những quả nhỏ như cỡ trái mâm xôi. Vòi voi rất nhạy cảm, voi đực dùng nó dùng để ve vãn voi cái, voi cái dùng nó để vuốt ve con. (những cái vuốt ve của con voi mẹ rất quan trọng trong việc phát triển của voi con)

Vòi voi rất dẻo, do mũi và môi kéo dài mà thành. Đầu vòi có 1 hoặc 2 ngón rất nhạy cảm để cầm nắm thức ăn và những đồ vật nhỏ. Ngoài tác dụng lấy thức ăn, vòi còn dùng để hút nước, phun nước khi tắm, để giao tiếp bằng xúc giáckhứu giác, để chào nhau, để khuếch đại tiếng ré hoặc để thể hiện rõ thái độ tức giận.

Ngà[sửa | sửa mã nguồn]

Ngà voi là cặp răng cửa trên của voi. Khi ngà bắt đầu mọc, nó có một lớp men bao ngoài như răng con người. Tuy nhiên, ngà càng lớn thì những lớp men này càng bị mỏng đi. Cấu tạo chính của ngà là xương răng. Ngà giúp voi tự vệ và ăn uống. Ngà sẽ tiếp tục phát triển trong suốt cuộc đời của voi, tức là voi càng già thì ngà càng to. Voi cái thường có ngà nhỏ hơn voi đực, ngà voi châu Á nhỏ hơn ngà voi châu Phi.

Tai voi[sửa | sửa mã nguồn]

Tai voi có kích thước lớn, tuy nhiên nó lại ít dùng để nghe, mà lại để thích ứng nhiệt độ trong cơ thể. Trên tai voi có nhiều mạch máu, độ chênh lệch với cơ thể lên đến 7 độ C. Nó thường dùng để phe phẩy tạo mát cho nó, đồng thời trong trường hợp nguy cấp, với các loài voi sống trên sa mạc, chiếc tai rất cần trong việc điều hoà nhiệt độ. Tai voi châu Phi lớn hơn rất nhiều so với voi châu Á.

Da voi[sửa | sửa mã nguồn]

Da voi dù rất dày nhưng lại nhạy cảm. Da voi cũng thường bị những con bọ ký sinh tấn công do đó chúng hay thích tắm bùn để gột rửa những con bọ này. Bụi bẩn bám trên da voi thành từng mảng hạn chế nắng mặt trời chiếu vào da và tránh các sinh vật ký sinh.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Hằng ngày, voi dành khoảng 16 tiếng đồng hồ để tìm kiếm thức ăn và chỉ ngủ khoảng từ 3 đến 5 tiếng. Voi trưởng thành ngủ đứng. Voi con đôi khi ngủ nằm. Voi tuy to lớn, nhưng điều đó không ngăn cản chúng trở thành những tay bơi giỏi. Chúng rất thích bơi và thậm chí có thể bơi ở biển. Thời gian ưa thích trong ngày của chúng là khi tắm bùn. Bùn bảo vệ voi khỏi bị ánh nắng thiêu đốt và giữ cho voi được mất mẻ, tránh được những con bọ khó chịu.

Ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Kích thước của một con voi có ý nghĩa là khi nó phát triển hoàn toàn thì ngoài con người ra, nó an toàn trước tất cả các loài thú ăn thịt. Và để nuôi sống cơ thể vĩ đại của mình, nó phải cần rất nhiều thức ăn. Mỗi con voi trưởng thành ăn khoảng 150 kg (300 lb) cỏ, cành nhỏ, lá cây, trái cây,... mỗi ngày. Những thức ăn như vậy cần được nhai kĩ càng. Voi có những răng nghiền phía sau ở cửa miệng, đây là vị trí mà các răng có lực mạnh nhất, nhưng nó cũng bị mòn đi. Khi đó răng mới sẽ được mọc lên ở phía dưới rồi đẩy răng cũ ra ngoài. Do đó, voi mọc răng trong suốt cuộc đời, tổng cộng có 6 bộ răng nghiền, nhưng khi bộ răng cuối cùng bị mòn thì khi đó voi đã sống đến 55 tuổi. Nó trở nên yếu đi vì thiếu thức ăn và sẽ chết vì đói nhiều hơn là về bệnh tật.

Một con voi đang ăn cỏ khô, mỗi ngày voi ăn và uống một lượng khổng lồ

Voi dùng vòi để quặp thức ăn và đưa vào miệng. Thức ăn chủ yếu của chúng là cỏ và các loại cây khác trên mặt đất. Voi dùng vòi để kéo lá cây, thân câycành cây từ trên cao xuống. Khi thức ăn khan hiếm, voi dùng ngà để húc đổ cây. Khi khát, voi tập trung bên bờ sông hoặc các vũng nước, thậm chí dùng vòi để đào sâu xuống để hút nước. Voi uống nước bằng cách hút nước vào vòi rồi phun vào trong miệng. Mỗi ngày voi tiêu thụ 160-300 lít nước. Voi cũng phun nước lên lưng để làm mát da.

Mỗi ngày voi con trưởng thành thải ra một lượng chất thải nặng hơn trọng lượng của một cậu bé. Phân voi chứa những hạt cây mà voi đã nuốt sẽ mọc lên thành cây mới thay thế cho những cây mà chúng đã ăn hoặc húc đổ. Hiện nay ở một số nước đang nuôi voi, nghiên cứu và đi vào thử nghiệm chế biến phân voi thành giấy (vì phân voi khá sạch, không nặng mùi do chúng chỉ ăn thực vật và uống nước).

Lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Thực ra, voi không bảo vệ lãnh thổ riêng của nó, thay vào đó, nó thích hòa nhập vào đàn sống bên cạnh, trong đó con voi đầu đàn là con voi cái già nhất sẽ giữ vai trò làm chủ. Nó dẫn cả đàn tìm đến những nơi có nước và thức ăn. Theo sau con voi này là những chú voi con và những con voi cái trưởng thành. Voi sống chung một đàn qua nhiều năm. Các thành viên trong đàn luôn sống cạnh nhau, chăm sóc cho nhau, thậm chí sẵn sàng cho bất kỳ chú voi con nào bú nếu cần thiết. Đôi khi đàn bị tách ra, một số con voi trẻ hơn rời đàn cùng những con voi khác. Nhưng đàn nhỏ này vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với gia đình gốc của chúng và có thể quay lại trong một thời gian rất ngắn.

Voi đực non (khoảng 12 tuổi) sống đơn độc hoặc sống cùng các voi đực khác. Số thành viên trong đàn chúng lập ra rất hay thay đổi. Khi các gia đình voi tập hợp lại sẽ trở thành bầy voi gồm hàng trăm thành viên. Voi giao tiếp bằng xúc giác, khứu giác, hoặc dùng vòi, tai ra hiệu. Tiếng ré của voi vang rất xa, voi ré lên để gọi nhau tập hợp thành bầy.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tính sinh sản của voi cũng rất đặc biệt. Voi không có mùa giao phối riêng, nhưng nếu một con cái giao phối thì chúng sẵn sàng gia nhập đàn mặc dù chúng có thể có mặt không thường xuyên cho lắm. Chu kỳ mang thai của voi là 22 tháng, dài nhất trong số các động vật sống trên mặt đất. Voi con mới sinh cân nặng khoảng 120 kg (265 pao). Vừa mới sinh voi con trông rất lem luốc nên chúng được voi mẹ lau sạch trước khi chúng đứng lên được. Chúng thường sinh vào mùa xuân. Sau khi voi con ra đời, chúng được những voi khác ở bên để bảo vệ cho tới khi nó đủ cứng cáp để có thể đi được. Cũng như các loài thú có tuổi thọ dài khác, voi dành rất nhiều năm để chăm sóc con. Voi trưởng thành quá to lớn nên không có mấy kẻ thù, nhưng voi con có nguy cơ bị tấn công. Voi con bú sữa mẹ trong vòng năm năm và voi đực rời đàn khi đủ mười ba tuổi. Voi lớn lên rất chậm và chúng có thể sống được 60 năm hoặc thậm chí 80 năm.

Chi và loài[sửa | sửa mã nguồn]

So sánh giữa voi châu Á (hình 1) và voi châu Phi (hình 2)
Hình ảnh ngà của con voi ở Khu bảo tồn Ngorongoro, Tanzania
Ngà voi được dùng để trang trí nội thất

Trong đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

Một con voi đã được thuần dưỡng

Voi đã thuần hóa là con vật nuôi có ích và rất thân thiện với con người. Từ hàng nghìn năm nay, những chú voi đã được thuần dưỡng để làm những công việc như kéo gỗ, kéo cày, kéo cây và để biểu diễn trong các lễ hội. Voi là động vật thông minh nên có thể học và ghi nhớ rất nhanh các kỹ năng đơn giản. Người dân vùng Đông Á thường dùng voi để kéo các cây gỗ lớn mà xe ủi hoặc xe kéo không làm được. Người châu Á cũng dùng voi để làm loài vật chiến đấu như voi chiến hay voi trận như Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia... Ở Việt NamBản Đôn - Đắk Lắk là một nơi có truyền thống săn bắt và thuần dưỡng voi rừng. Voi ở đây còn được sử dụng như một sản phẩm du lịch ăn khách. Ở đây còn có huyền thoại về vua voi và nhiều di tích, kỉ vật về ông còn được lưu giữ.

Trong văn hóa Việt Nam, voi được nhiều lần nhắc đến qua những câu chuyện, câu thành ngữ, tục ngữ. Ví dụ:

  • Mười voi không bằng bát nước xáo: Chỉ những người huênh hoang khoác lác nhưng chẳng có thực chất
  • Tránh voi chẳng xấu mặt nào: Chỉ cách ứng phó, đối nhân xử thế, không chấp nhất
  • Thầy bói xem voi: Câu chuyện dân gian
  • Được voi đòi tiên: Chỉ sự tham lam, đòi hỏi quá đáng
  • Voi giày ngựa: Liên tưởng đến một hình phạt tàn khốc
  • Đầu voi đuôi chuột: Chỉ về sự việc làm không đến nơi, đến chốn, mang tính khoa trương

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1 tại dòng 1696: Chế độ ID thủ công không rõ.
  2. ^ a ă â Shoshani, J. (1998). “Understanding proboscidean evolution: a formidable task”. Trends in Ecology and Evolution 13 (12): 480–87. PMID 21238404. doi:10.1016/S0169-5347(98)01491-8. 
  3. ^ a ă Palkopoulou, E. và đồng nghiệp (2018). “A comprehensive genomic history of extinct and living elephants”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 115 (11): E2566–E2574. PMC 5856550. PMID 29483247. doi:10.1073/pnas.1720554115. 
  4. ^ Kellogg, M.; Burkett, S.; Dennis, T. R.; Stone, G.; Gray, B. A.; McGuire, P. M.; Zori, R. T.; Stanyon, R. (2007). “Chromosome painting in the manatee supports Afrotheria and Paenungulata”. Evolutionary Biology 7: 6. PMC 1784077. PMID 17244368. doi:10.1186/1471-2148-7-6. 
  5. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1 tại dòng 1696: Chế độ ID thủ công không rõ.
  6. ^ Shoshani, J. (2005). “Order Proboscidea”. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World: A Taxonomic and Geographic Reference, Volume 1 (ấn bản 3). Johns Hopkins University Press. tr. 90–91. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  7. ^ Shoshani, pp. 38–41.
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Shoshani42
  9. ^ Rohland, N.; Reich, D.; Mallick, S.; Meyer, M.; Green, R. E.; Georgiadis, N. J.; Roca, A. L.; Hofreiter, M. (2010). Penny, David, biên tập. “Genomic DNA Sequences from Mastodon and Woolly Mammoth Reveal Deep Speciation of Forest and Savanna Elephants”. PLOS Biology 8 (12): e1000564. PMC 3006346. PMID 21203580. doi:10.1371/journal.pbio.1000564. 
  10. ^ Ishida, Y.; Oleksyk, T. K.; Georgiadis, N. J.; David, V. A.; Zhao, K.; Stephens, R. M.; Kolokotronis, S.-O.; Roca, A. L. (2011). Murphy, William J, biên tập. “Reconciling apparent conflicts between mitochondrial and nuclear phylogenies in African elephants”. PLOS ONE 6 (6): e20642. Bibcode:2011PLoSO...620642I. PMC 3110795. PMID 21701575. doi:10.1371/journal.pone.0020642. 
  11. ^ Roca, Alfred L.; Ishida, Yasuko; Brandt, Adam L.; Benjamin, Neal R.; Zhao, Kai; Georgiadis, Nicholas J. (2015). “Elephant Natural History: A Genomic Perspective”. Annual Review of Animal Biosciences 3 (1): 139–167. PMID 25493538. doi:10.1146/annurev-animal-022114-110838. 
  12. ^ Meyer, Matthias (2017). “Palaeogenomes of Eurasian straight-tusked elephants challenge the current view of elephant evolution”. eLife 6. PMC 5461109. PMID 28585920. doi:10.7554/eLife.25413. 
  13. ^ Kingdon, Jonathan (2013). Mammals of Africa. Bloomsbury. tr. 173. ISBN 9781408189962. 
  14. ^ Gheerbrant, E. (2009). “Paleocene emergence of elephant relatives and the rapid radiation of African ungulates”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 106 (26): 10717–10721. Bibcode:2009PNAS..10610717G. PMC 2705600. PMID 19549873. doi:10.1073/pnas.0900251106. 
  15. ^ Sukumar, pp. 13–16.
  16. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Sukumar17
  17. ^ Sukumar, p. 22.
  18. ^ Sukumar, pp. 24–27.
  19. ^ a ă Sukumar, p. 44.
  20. ^ a ă Larramendi A (2015). “Shoulder height, body mass and shape of proboscideans”. Acta Palaeontologica Polonica. doi:10.4202/app.00136.2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  21. ^ a ă Sukumar, pp. 28–31.
  22. ^ Sukumar, pp. 36–37.
  23. ^ Carpenter, K. (2006). “Biggest of the big: a critical re-evaluation of the mega-sauropod Amphicoelias fragillimus Cope, 1878”. Trong Foster, J.R.; Lucas, S.G. Paleontology and Geology of the Upper Jurassic Morrison Formation. New Mexico Museum of Natural History and Science Bulletin 36. New Mexico Museum of Natural History and Science. tr. 131–138. 
  24. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1 tại dòng 1696: Chế độ ID thủ công không rõ.
  25. ^ K.S. Rajgopal (ngày 4 tháng 9 năm 2013). “The dental factor in elephant evolution”. The Hindu. 
  26. ^ “Humanity's Grassroots: How Grazing Animals Shaped Evolution”. LiveScience.com. 
  27. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên snorkel

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]