Volkssturm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Volkssturm
Bundesarchiv Bild 146-1971-033-15, Vorbeimarsch des Volkssturms an Goebbels, Berlin.jpg
Thành viên Volkssturm diễu hành. Tháng 11, 1944
Thành lập18 tháng 10 năm 1944
Giải tán8 tháng 5 năm 1945
Quốc gia Đức Quốc xã
Phục vụĐảng Quốc Xã
Phân loạiDân quân
Các tư lệnh
Chỉ huy danh nghĩaJoseph Goebbels

Volkssturm (phát âm tiếng Đức: [ˈfɔlks.ʃtʊɐ̯m], Nhân dân xung kích)[1][2] là một lực lượng dân quân quốc gia do Đức Quốc Xã thành lập trong những tháng cuối của Thế chiến thứ hai. Tuy chiến đấu dưới sự chỉ huy của Wehrmacht, nhưng nó được thành lập và chỉ huy bởi Đảng Quốc xã theo lệnh của Adolf Hitler, và sự tồn tại của nó chỉ được công bố chính thức vào ngày 16 tháng 10 năm 1944.[3] Những thành viên của nó được quy tập bởi các nam giới trong độ tuổi từ 16 đến 60, những người chưa từng phục vụ trong quân đội. Volkssturm là một trong những nỗ lực cuối cùng của cuộc chiến tranh toàn diện do Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Joseph Goebbels phát động, một phần trong nỗ lực của Đức Quốc xã nhằm vượt qua sức mạnh quân sự của kẻ thù bằng sức mạnh ý chí.[4]

Nguồn gốc và tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

21 tháng 10 năm 1944. Một bức ảnh tuyên truyền của SS về Volkssturm; chỉ những người ở phía bên trái và ngoài cùng bên phải của hàng có vẻ là thành viên mặc đồng phục.
Bức ảnh này mô tả sự chênh lệch về tuổi tác giữa các thành viên, bên trái là một người đàn ông từ 50 tuổi trở lên với một cậu bé khoảng 15 hoặc 16 tuổi.
Volkssturm bảo vệ sông Oder, tháng 2/1945
Hai thành viên của Volkssturm đầu hàng quân đội Anh gần Bocholt, ngày 28 tháng 3 năm 1945.

Ý tưởng thành lập Volkssturm lấy cảm hứng từ lực lượng Landsturm của của nước Phổ cũ trong giai đoạn 1813-1815, chiến đấu trong các cuộc chiến giải phóng chống lại Napoleon, chủ yếu là lực lượng du kích.[5] Kế hoạch thành lập một lực lượng dân quân quốc gia Landsturm ở miền đông nước Đức như là phương sách cuối cùng để tăng cường sức mạnh chiến đấu được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1944 bởi tướng Heinz Guderian, Tổng tham mưu trưởng.[6] Quân đội không có đủ người để chống lại sự tấn công dữ dội của Liên Xô. Vì vậy, mọi nam giới được bổ sung cho nhân lực, bao gồm cả những người trong các công việc không thiết yếu, những người trước đây được coi là không phù hợp, quá tuổi hoặc chưa đủ tuổi và những thương binh đang trong quá trình hồi phục vết thương.[7] Volkssturm đã tồn tại trên giấy tờ từ khoảng năm 1925, nhưng chỉ sau khi Hitler ra lệnh cho Martin Bormann tuyển mộ sáu triệu người cho lực lượng dân quân, lực lượng Volkssturm mới trở thành hiện thực. Tuy nhiên, bấy giờ nước Đức đã kiệt lực và sức mạnh dự định của "sáu triệu" không bao giờ có thể đạt được.[8]

Joseph Goebbels và các nhà tuyên truyền khác mô tả Volkssturm là sự bộc phát của nhiệt tình và ý chí kháng cự.[9] Mặc dù có một số ảnh hưởng nhỏ đến tinh thần dân chúng, nhưng rất dễ nhìn thấy được Volkssturm trnag bị thiếu thốn đồng phục và vũ khí cho các tân binh.[10] Bộ máy truyền thông của Đức Quốc xã đã chạy hết công suất để quảng bá sự hy vinh và vinh quang để khuyến khích cuộc chiến.[11] Nhiều thường dân Đức nhận ra rằng đây là một nỗ lực tuyệt vọng để xoay chuyển cuộc chiến. Những ông già cáu kỉnh sẽ nhận xét: "Những con khỉ già của chúng tôi là vũ khí mới nhất của Führer" (trong tiếng Đức, câu này có vần điệu như: "Wir alten Affen sind des Führers neue Waffen"). Một câu trào phúng phổ biến về Volkssturm được biết đến là "Tại sao Volkssturm là tài nguyên quý giá nhất của Đức? Bởi vì các thành viên của nó có bạc trên tóc, vàng trong miệng và chì trong xương."[12]

Để các đơn vị dân quân này có hiệu quả, họ không chỉ cần sức mạnh về số lượng, mà còn cả sự cuồng tín.[13] Trong giai đoạn đầu của kế hoạch Volkssturm, rõ ràng là các đơn vị thiếu tinh thần sẽ thiếu hiệu quả chiến đấu. Để tạo ra sự cuồng tín, các đơn vị Volkssturm được đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của các quan chức đảng Quốc xã địa phương, GauleiterKreisleiter. Volkssturm cũng đã trở thành một tổ chức toàn quốc, với Heinrich Himmler, với tư cách là chỉ huy quân đội dự bị, chịu trách nhiệm về vũ khí và huấn luyện. Mặc dù trên danh nghĩa đặt dưới sự kiểm soát của đảng, các đơn vị Volkssturm được đặt dưới quyền chỉ huy của Wehrmacht khi tham gia vào tác chiến. Nhận thức được rằng "quân đội nhân dân" sẽ không thể trụ nổi trước sức tấn công mãnh liệt của các đạo quân nhà nghề hiện đại của quân Đồng minh, Hitler đã ban hành lệnh sau vào cuối năm 1944:

Do Đảng Quốc xã chịu trách nhiệm tổ chức Volkssturm, mỗi Gauleiter (lãnh đạo hạt của Đảng Quốc xã) chịu trách nhiệm lãnh đạo, ghi danh và tổ chức Volkssturm trong hạt của họ. Đơn vị Volkssturm lớn nhất dường như đã tương ứng với phân khu lãnh thổ Kreis của tổ chức Đảng Quốc xã. Đơn vị cơ bản là một tiểu đoàn gồm 642 người. Các đơn vị chủ yếu bao gồm các Đoàn viên Thanh niên Hitler, thương binh, người già hoặc nam giới trước đây được coi là không phù hợp cho nghĩa vụ quân sự.[15][a] Vào ngày 12 tháng 2 năm 1945, Đức quốc xã đã buộc phụ nữ và trẻ em gái Đức vào các đơn vị phụ trợ của Volkssturm.[16] Tương ứng, các cô gái từ 14 tuổi đã được huấn luyện cách sử dụng vũ khí nhỏ, panzerfaust, súng máy và lựu đạn từ tháng 12 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945.[17]

Tổ chức đô thị như sau:

Mỗi GauleiterKreisleiter đều có một Tham mưu trưởng Volkssturm phụ tá.

Từ khi thành lập lực lượng dân quân cho đến mùa xuân năm 1945, Himmler và Bormann đã tham gia vào một cuộc cạnh tranh quyền lực về quyền kiểm soát tài phán đối với Volkssturm, bao gồm cả quyền lực an ninh và cảnh sát, ở Đức và các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng; một cuộc cạnh trang mà Himmler và SS ít nhiều đã chiến thắng ở một cấp độ (cảnh sát và an ninh), nhưng thua Bormann ở một cấp độ khác (huy động lực lượng dự bị).[18] Nhà sử học David Yelton đã mô tả tình huống này như là hai lãnh đạo cao cấp đang giành nhau quyền điều khiển của một con tàu chiến đang chìm cùng với chỉ huy của nó.[19]

Đồng phục và phù hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Băng đeo tay Volkssturm.

"Đồng phục" của Volkssturm chỉ là một chiếc băng đeo tay màu đen với dòng chữ tiếng Đức Deutscher Volkssturm Wehrmacht. Một số biến thể của băng tay được được các thành viên của Volkssturm sử dụng chỉ đơn giản là các dải vải màu đỏ hoặc màu vàng với chữ "Deutschecher Volkssturm Wehrmacht" được in màu đen trên đó. Trên băng đeo tay này, có các tiết phân biệt cấp bậc màu đen, có hoặc không có vạch màu bạc, được đeo trên cổ áo đồng phục của các thành viên Volkssturm. Chúng có nguồn gốc đặc trưng từ cấp hiệu của các tổ chức bán quân sự khác nhau của Đảng Quốc xã, không giống các bấc bậc quân sự của Wehrmacht.

Chính phủ Đức Quốc xã đã tuyển mộ càng nhiều thành viên càng tốt, với đồng phục quân sự đủ loại, từ quân phục màu xám đến trang phục ngụy trang. Hầu hết các thành viên của Volkssturm, đặc biệt là các thành viên cao tuổi, không có đồng phục và cũng không được cung cấp, vì vậy họ thường mặc trang phục đi làm (gồm công nhân đường sắt, cảnh sát và lính cứu hỏa) hoặc quần áo dân sự của họ và thường mang theo ba lô, chăn riêng và dụng cụ nấu ăn, vv [20]

Cấp bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Các phù hiệu bán quân sự đơn giản của Volkssturm như sau:

Xếp hạng Volkssturm Dịch Cấp bậc quân sự so sánh Phù hiệu
Bataillonsführer Tiểu đoàn trưởng Thiếu tá NSKK-Sturmbannführer.svg
Bataillonsarzt Phụ tá Tiểu đoàn Đại úy NSKK-Sturmführer.svg
with Rod of Asclepius
Kompanieführer Đại đội trưởng Đại úy NSKK-Sturmführer.svg
Zugführer Trung đội trưởng Trung úy NSKK-Truppführer.svg
Sanitätsdienstgrad Phụ tá Trung đội Hạ sĩ NSKK-Scharführer.svg
Gruppenführer Tiểu đội trưởng Hạ sĩ NSKK-Scharführer.svg
Volkssturmmann Đội viên Nhân dân xung kích Binh nhì NSKK-Mann.svg

Đào tạo và tác động[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2/1945: Các thành viên Volkssturm đang được huấn luyện sử dụng vũ khí chống tăng Panzerfaust.
Tháng 3/1945: Một huấn luyện viên Volkssturm giải thích việc sử dụng Panzerfaust cho một nữ thường dân.

Thông thường, các thành viên Volkssturm chỉ được huấn luyện quân sự rất cơ bản. Nó bao gồm một khóa huấn luyện ngắn về việc sử dụng các vũ khí cơ bản như súng trường Karabiner 98kPanzerfaust. Do chiến đấu liên tục và thiếu vũ khí, việc huấn luyện trên vũ khí thực thường rất ít. Ngoài ra còn do thiếu người hướng dẫn, có nghĩa là việc huấn luyện vũ khí đôi khi được thực hiện bởi các cựu chiến binh trong Thế chiến thứ nhất được gọi lại. Thông thường các thành viên Volkssturm chỉ có thể làm quen với vũ khí của họ khi tham chiến thực sự.

Không có tiêu chuẩn hóa nào về trang bị và các đơn vị chỉ được cung cấp những trang bị có sẵn. Điều này đúng với mọi trang bị - Các thành viên Volkssturm được yêu cầu phải mang đồng phục và dụng cụ nấu ăn của riêng họ, v.v... Điều này dẫn đến việc các đơn vị trông rất nhếc nhác, bệ rạc và thay vì thúc đẩy tinh thần dân chúng, nó thường khơi gợi về tình trạng tuyệt vọng của nước Đức.[10] Vũ khí cũng ngớ ngẩn không kém: mặc dù có một số súng trường Karabiner 98k được trang bị, các thành viên Volkssturm cũng được phát các loại súng trường Gewehr 98s và Gewehr 71 cổ lỗ từ thế kỷ 19 và Steyr-Mannlicher M1888, cũng như súng ngắn Dreyse M1907. Ngoài ra, còn có rất nhiều vũ khí chiến lợi phẩm của Liên Xô, Anh, Bỉ, Pháp, Ý và các quốc gia khác bị quân Đức thu được trong chiến tranh. Người Đức cũng đã phát triển các loại vũ khí Volkssturm giá rẻ nhưng hiệu quả, như súng ngắn MP 3008 và súng trường Volkssturmgewehr. Đây là những vũ khí được sản xuất bằng các kỹ thuật dập ép bằng máy, đơn giả và rẻ tiền, do vào những năm cuối chiến tranh, nhiều dây chuyền công nghiệp của Đức đã bị quân Đồng minh ném bom phá hủy, vì vậy để sản xuất một khẩu súng cần một lượng lớn công việc bán thủ công để thực sự đáng tin cậy. Các đơn vị Volkssturm được cung cấp bổ sung trên danh nghĩa có thể bởi cả Wehrmacht và SS.[21]

Khi đã hoàn thành khóa huấn luyện và nhận vũ khí, các thành viên Volkssturm theo thông sẽ tuyên thệ trung thành với Hitler và sau đó được phái đi chiến đấu. Không giống như hầu hết các quốc gia nói tiếng Anh, Đức áp dụng nghĩa vụ quân sự phổ thông cho tất cả nam thanh niên trong nhiều thế hệ, vì vậy nhiều thành viên lớn tuổi đã được huấn luyện quân sự cơ bản từ khi họ phục vụ trong Quân đội Đức và nhiều người đã từng là cựu chiến binh Thế chiến thứ nhất. Các đơn vị Volkssturm được cho là chỉ được sử dụng trong phạm vị hạt của họ, nhưng nhiều đơn vị đã được gửi trực tiếp ra tiền tuyến. Cuối cùng, trách nhiệm của họ là đương đầu với sức mạnh áp đảo của quân đội Anh, Canada, Liên Xô, Mỹ và Pháp, cùng với lực lượng Wehrmacht để xoay chuyển cuộc chiến hoặc làm gương sáng cho các thế hệ người Đức trong tương lai và đánh bại sự thất bại của 1918 bằng cách chiến đấu đến người cuối cùng, chết trước khi đầu hàng.[22][b] Đó là một mục tiêu tận thế mà một số người được giao cho Volkssturm đã thuộc nằm lòng. Các thành viên cuồng tín của Volkssturm đã từ chối từ bỏ đạo đức của Đức Quốc xã cho đến những ngày Đức Quốc xã đang hấp hối, và trong một số trường hợp đã có những "hành động cảnh sát" tàn bạo đối với thường dân Đức, mà họ coi là kẻ chủ bại hoặc hèn nhát.[23]

Trong một số dịp, các thành viên Volkssturm đã thể hiện lòng dũng cảm và một ý chí kiên cường kháng cự, thậm chí còn hơn cả những binh sĩ Wehrmacht. Chẳng hạn, tiểu đoàn Volkssturm 25/235, khởi đầu với 400 người nhưng đã chiến đấu cho đến khi chỉ còn 10 người. Chiến đấu tại Küstrin từ 30 tháng 1 đến 29 tháng 3 năm 1945, các đơn vị dân quân, chiếm phần lớn là thành viên Volkssturm, đã chống cự trong gần hai tháng. Thiệt hại lên tới 60% cho Volkssturm tại Kołobrzeg, khoảng 1.900 người trong số họ đã chết tại Breslau, và trong Trận Königsberg (nay là Kaliningrad), 2.400 thành viên khác của Volkssturm đã bị giết.[24] Vào những thời điểm khác, dọc theo mặt trận phía tây, các đơn vị Volkssturm lại nhanh chóng đầu hàng hoặc tan rã trong hỗn loạn.[3] Hăng hái và cuồng tín nhất là các đoàn viên Thanh niên Hitler chiến đấu trong Volkssturm hoặc ý thức trách nhiệm vô độ từ những ông già, đôi khi lại dẫn đến những sự kiện bi thảm. Một ví dụ được chia sẻ bởi nhà sử học Stephen Fritz làm minh chứng trong trường hợp này:

Không phải mọi đơn vị Volkssturm đều tự sát hoặc chiến đấu đến cùng trong khi chiến tranh đã gần kết thúc. Nhiều người trong số họ mất nhiệt tình với cuộc chiến khi thấy rõ quân Đồng minh sẽ chiến thắng, khiến họ phải hạ vũ khí và đầu hàng - họ cũng sợ bị quân Đồng minh bắt giữ và tra tấn hoặc hành quyết như một du kích.[26] Bổn phận đối với cộng đồng và tránh khỏi những điều khủng khiếp như tại Bad Windsheim, cũng đóng một vai trò trong tư tưởng của họ, cũng như sự sinh tồn.[27]

Việc sử dụng rộng rãi nhất của Volkssturm là trong Trận chiến Berlin, nơi các đơn vị Volkssturm chiến đấu ở nhiều nơi trong thành phố. Trận chiến này đặc biệt khốc liệt; nhiều thành viên Volkssturm đã chiến đấu đến chết vì sợ bị Liên Xô bắt giữ, giữ vững đến cùng, đúng với lời thề của họ.[28] Tuy nhiên, với một lực lượng gồm hơn 2,5 triệu quân Liên Xô, được trang bị 6.250 xe tăng và hơn 40.000 khẩu pháo, được giao nhiệm vụ đánh chiếm thành phố, tàn quân của Wehrmacht không còn có thể là đối thủ. Trong khi đó, Hitler đã tố cáo mọi "sự phản bội" đối với cư dân của Führerbunker.[29] Không thiết tha cho cái chết được cho là vô nghĩa, nhiều thành viên lớn tuổi của Volkssturm đã tìm cách trốn khỏi quân đội Liên Xô đang đến gần.[30] Bên cạnh hình ảnh bi thảm của Volkssturm ở Berlin, là những cuộc đào tẩu và đầu hàng thường xuyên của binh lính Wehrmacht và các thành viên Volkssturm ở miền nam và miền tây nước Đức.[31]

Trận chiến Berlin[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trận chiến tại Berlin, các đơn vị Volkssturm đã được chỉ huy cấp cao của Đức sử dụng như một nỗ lực cuối cùng để bảo vệ Berlin. Volkssturm có quân số khoảng 60.000 người ở khu vực Berlin được thành lập thành 92 tiểu đoàn, trong đó khoảng 30 tiểu đoàn Volkssturm I (những người có vũ khí) được gửi tới các vị trí tiền phương, trong khi những người thuộc Volkssturm II (những người không có vũ khí)[32] vẫn ở trong nội thành. Một trong số ít các đơn vị chiến đấu thực sự còn lại để bảo vệ Berlin là Quân đoàn LVI Panzer, chiếm giữ khu vực phía đông nam của thành phố, trong khi các phần còn lại của thành phố được bảo vệ bởi những gì còn lại của SS, Volkssturm và Đoàn Thanh niên Hitler.[33]

Một đơn vị Volkssturm đáng chú ý và bất thường trong trận chiến tại Berlin là Tiểu đoàn 3/115 Siemensstadt. Nó bao gồm 770 người, chủ yếu là các cựu chiến binh trong Thế chiến thứ nhất ở độ tuổi 50, những người có công việc phù hợp với các công nhân nhà máy, với các sĩ quan giàu kinh nghiệm. Không giống như hầu hết các đơn vị Volkssturm khác, nó được trang bị và huấn luyện khá tốt. Nó được tổ chức với ba đại đội súng trường, một đại đội hỗ trợ (với hai pháo hỗ trợ bộ binh, bốn súng cối bộ binh và súng máy hạng nặng) và một đại đội vũ khí hạng nặng (với bốn pháo phản lực M-20 của Liên Xô và một cối De Bange 220mm của Pháp). Tiểu đoàn giao chiến lần đầu tiên với quân đội Liên Xô tại Friedrichsfelde vào ngày 21 tháng 4 và chứng kiến trận chiến khốc liệt nhất trong hai ngày sau đó. Đến ngày 2 tháng 5, nó chỉ còn 50 súng trường và hai súng máy hạng nhẹ. Những người sống sót đã quay trở lại để tham gia các đơn vị Volkssturm khác. 26 người từ tiểu đoàn được trao tặng Thập tự Sắt.[34] Các máy bay ném bom của Đồng minh đã biến Berlin thành đống đổ nát; trong khi đó, những vị trí cuối cùng ở Berlin đã giảm dần khi chiến đấu chống lại quân Liên Xô được huấn luyện kỹ lưỡng, tiến dần đến những mốc chiến thắng cuối cùng, coi những người đang chống cự như Volkssturm là những kẻ khủng bố giống như cách mà Wehrmacht từng xem các đội du kích tiềm năng trong Chiến dịch Barbarossa.[35] Các binh sĩ Hồng quân gọi các đơn vị Thanh niên Hitler và các thành viên của Volkssturm vẫn chiến đấu đến cùng ở Berlin là "vét túi", vì họ là một phần của toàn bộ nỗ lực huy động cuối cùng của Đức.[36]

Giai đoạn cuối[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi Thập tự Sắt được ban phát khắp nơi ở Berlin, các thành phố và thị trấn khác như Parchim và Mecklenburg đã chứng kiến những tinh hoa cũ, đóng vai trò là chỉ huy quân sự cho Thanh niên Hitler và Volkssturm, khẳng định bản thân và yêu cầu cuộc chiến phòng thủ cần dừng lại để cứu vãn mạng sống và tài sản.[37] Bất chấp những nỗ lực của họ, bốn tháng cuối của cuộc chiến là nỗ lực chiến tuyệt vọng đối với Volkssturm, và sự kiên quyết của lãnh đạo Đức Quốc xã để tiếp tục cuộc chiến đến tận cùng, đã góp thêm 1,23 triệu người chết (xấp xỉ) cho quân đội Đức và phần còn lại từ Volkssturm.[38] Nhà sử học Stephen Fritz đưa ra không phù hợp với những quan sát của Richard J. Evans, người đã báo cáo 175.000 thành viên Volkssturm đã chiến đấu chống lại quân đội chuyên nghiệp của Đồng minh phương Tây và Liên Xô.[39] Số liệu của Evans dựa trên các thành viên được lập chỉ mục thẻ được liệt kê là đã bị giết, nhưng Martin Sorge chỉ ra rằng con số này không bao gồm 30.000 được liệt kê là mất tích hoặc chết trong báo cáo năm 1963.[40]

Các thành viên Volkssturm bị thẩm vấn đã đặt câu hỏi về việc các lực lượng chính quy đã đi đâu, tiết lộ rằng lính Đức đã đầu hàng Mỹ và Anh thay vì Hồng quân vì sợ bị trả thù liên quan đến sự tàn bạo mà họ đã gây ra ở Liên Xô.[41]

Thành viên nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gregor Dorfmeister, dưới bút danh của Manfred Gregor, năm 1958 đã xuất bản cuốn tiểu thuyết Die Brücke, dựa trên kinh nghiệm của ông trong một đơn vị Volkssturm. Cuốn tiểu thuyết được chuyển thể thành phim vào năm sau và thành phim truyền hình năm 2008.
  • Các đơn vị Volkssturm gồm các thiếu niên được mô tả trong các cảnh chiến đấu trong bộ phim Downfall năm 2004. [c]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Einstossflammenwerfer 46
  • Landwehr
  • MP 3008
  • Volksgrenadier
  • Volkspistole
  • Volkssturmgewehr
  • Wachdienst

Các quốc gia khác:

  • Lữ đoàn đen (Ý)
  • Phòng vệ nhà (Vương quốc Anh)
  • Quân đoàn tình nguyện chiến đấu (Nhật Bản)

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hans Jürgen Massaquoi, of Liberian and German parents, had been rejected by the Jungvolk and the Wehrmacht on racial grounds, but was called by the Volkssturm. See: Hans J. Massaquoi, Destined to Witness, 1990.
  2. ^ Also see: Berd Wegner, "Zweite Weltkrieg und die Choreographie des Untergangs", Geschichte und Gesellschaft, vol. xxvi (2000), no. 3, pp. 492–518.
  3. ^ See Downfall (2004) on IMDB.com: https://www.imdb.com/title/tt0363163/?___441

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Fritz 2004, tr. ix.
  2. ^ Kershaw 2011, tr. 86–88.
  3. ^ a ă Burleigh 2000, tr. 786.
  4. ^ Kershaw 2001, tr. 713–714.
  5. ^ Herzstein 1986, tr. 246.
  6. ^ Guderian 2001, tr. 362.
  7. ^ Moorhouse 2012, tr. 351.
  8. ^ Read 2005, tr. 855.
  9. ^ Herzstein 1986, tr. 251–252.
  10. ^ a ă Herzstein 1986, tr. 248.
  11. ^ Herzstein 1986, tr. 252.
  12. ^ Fritz 2004, tr. 36.
  13. ^ Benz 2007, tr. 254.
  14. ^ Trevor-Roper 1964, tr. 204.
  15. ^ Zentner & Bedürftig 1991, tr. 1004–1005.
  16. ^ Hildebrand 1984, tr. 82.
  17. ^ Kater 2004, tr. 238.
  18. ^ Yelton 2003, tr. 167–177.
  19. ^ Yelton 2003, tr. 176.
  20. ^ Evans 2010, tr. 675–676.
  21. ^ Duffy 2002, tr. 383.
  22. ^ Bessel 2010, tr. 17.
  23. ^ Kershaw 2011, tr. 87.
  24. ^ Sorge 1986, tr. 49–50.
  25. ^ Fritz 2004, tr. 121.
  26. ^ Moorhouse 2012, tr. 352.
  27. ^ Bessel 2010, tr. 22.
  28. ^ Kissel 1962, tr. 32.
  29. ^ Bessel 2010, tr. 104–109.
  30. ^ Kershaw 2001, tr. 811.
  31. ^ Bessel 2010, tr. 135–137.
  32. ^ Beevor 2002, tr. 178.
  33. ^ Ziemke 1968, tr. 481.
  34. ^ Le Tissier 2008, tr. 212.
  35. ^ Beevor 2002, tr. 299–301.
  36. ^ Beevor 2002, tr. 316.
  37. ^ Bessel 2010, tr. 139–140.
  38. ^ Fritz 2004, tr. 191.
  39. ^ Evans 2010, tr. 676.
  40. ^ Sorge 1986, tr. 50.
  41. ^ Beevor 2002, tr. 308.
  42. ^ Safranski 1999, tr. 332–333.
  43. ^ Fellgiebel 2000, tr. 423, 506.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Beevor, Antony (2002). The Fall of Berlin, 1945. New York; London: Viking. ISBN 0-670-03041-4.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Benz, Wolfgang (2007). A Concise History of the Third Reich. Berkeley and Los Angeles: University of California Press. ISBN 978-0-52025-383-4.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Bessel, Richard (2010). Germany 1945: From War to Peace. New York: Harper Perennial. ISBN 978-0-06054-037-1.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Burleigh, Michael (2000). The Third Reich: A New History. New York: Hill and Wang. ISBN 978-0-80909-325-0.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Duffy, Christopher (2002). Red Storm on the Reich: The Soviet March on Germany, 1945. Edison, NJ: Castle Books. ISBN 0-7858-1624-0.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Evans, Richard (2010). The Third Reich at War. New York: Penguin. ISBN 978-0-14311-671-4.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Fritz, Stephen G. (2004). Endkampf: Soldiers, Civilians, and the Death of the Third Reich. Lexington: The University Press of Kentucky. ISBN 978-0-81312-325-7.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Guderian, Heinz (2001). Panzer Leader. New York and Boston: Da Capo Press. ASIN B008CMU05I.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Herzstein, Robert E. (1986). The War That Hitler Won: Goebbels and the Nazi Media Campaign. St Paul, MN: Paragon House. ISBN 978-0913729472.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Hildebrand, Klaus (1984). The Third Reich. London and New York: Routledge. ISBN 0-0494-3033-5.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Fellgiebel, Walther-Peer (2000). Die Träger des Ritterkreuzes des Eisernen Kreuzes 1939–1945 (bằng tiếng Đức). Friedberg: Podzun-Pallas. ISBN 978-3-7909-0284-6.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết) Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  • Kater, Michael H. (2004). Hitler Youth. Cambridge, MA: Harvard University Press. ISBN 0-674-01496-0.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Kershaw, Ian (2001). Hitler: 1936–1945, Nemesis. New York: W. W. Norton & Company. ISBN 978-0-39332-252-1.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Kershaw, Ian (2011). The End: The Defiance and Destruction of Hitler’s Germany, 1944–1945. New York: Penguin Books. ISBN 978-0-14312-213-5.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Kissel, Hans (1962). Der Deutsche Volkssturm 1944/45: Eine territoriale Miliz im Rahmen der Landesverteidung (bằng tiếng Đức). Frankfurt am Main: Verlag E. S. Mittler und Sohn. ASIN B00DSDZEGQ.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết) Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  • Le Tissier, Tony (2008). Berlin Battlefield Guide: Third Reich & Cold War. South Yorkshire: Pen & Sword Military. ISBN 1-84415-766-0.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Massaquoi, Hans J. (1990). Destined to Witness: Growing Up Black in Nazi Germany. Chapel Hill: University of North Carolina Press.
  • Moorhouse, Roger (2012). Berlin at War. New York: Basic Books. ISBN 978-0-46502-855-9.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Read, Anthony (2005). The Devil's Disciples: Hitler's Inner Circle. New York: Norton. ISBN 978-039332-697-0.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Safranski, Rüdiger (1999). Martin Heidegger: Between Good and Evil. Cambridge, MA: Harvard University Press. ISBN 978-0-67438-710-2.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Sorge, Martin K. (1986). The Other Price of Hitler's War: German Military and Civilian Losses Resulting from World War II. New York: Greenwood Press. ISBN 978-0-31325-293-8.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Trevor-Roper, Hugh (1964). Blitzkrieg to Defeat: Hitler's War Directives, 1939–1945. New York: Holt, Rinehart and Winston. ISBN 978-0-03085-494-1.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Yelton, David K. (2003). “The SS, NSDAP, and the Question of Volkssturm Expansion”. Trong Alan E. Steinweis; Daniel Rogers (biên tập). The Impact of Nazism: New Perspectives on the Third Reich and Its Legacy. Lincoln, NE: University of Nebraska Press. ISBN 978-0-80324-299-9.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Zentner, Christian; Bedürftig, Friedemann (1991). The Encyclopedia of the Third Reich (2 vols.). New York: MacMillan Publishing. ISBN 0-02-897500-6.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Ziemke, Earl F (1968). Stalingrad to Berlin: The German Defeat in the East. Washington D.C.: Office of the Chief of Military History – U.S. Army. ASIN B002E5VBSE.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]