Wagashi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
6 bánh wagashi trên đĩa

Wagashi (和菓子, わがし) là tên gọi chung cho các loại đồ ngọt truyền thống của Nhật Bản với nguyên liệu thường dùng là thực vật, các loại bánh này thường ăn cùng với trà. Ban đầu wagashi được dùng trong các buổi tiệc trà truyền thống, hương vị của loại này được chăm chút hơn các loại đồ ăn khác cũng như được trình bày đẹp mắt và mang tính nghệ thuật, vì thế loại bánh này còn được xem là các tác phẩm nghệ thuật có thể ăn được. Wagashi là một trong các đại diện cho văn hóa Nhật Bản và đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hằng ngày tại nước này.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của wagashi được hình thành từ các loại bánh thời cổ xưa được làm bằng gạo, , các loại ngũ cốc khác cùng với các loại hạt và trái cây thường dùng trong chế độ ăn uống hằng ngày tại Nhật Bản khi đó. Wagashi bắt đầu hình thành phát triển khi đồ ngọt được nhập khẩu vào Nhật Bản qua các con đường giao thương từ thế kỷ thứ 7. Văn hóa trà đạo tại Kyoto có ảnh hưởng đặc biệt trong quá trình phát triển của wagashi, chúng thường được mời trong các buổi tiệc trà như để bày tỏ lòng hiếu khách vì thế chúng bắt đầu được làm càng bắt mắt càng tốt và nghệ thuật làm bánh cứ thế tiếp tục phát triển. Wagashi có ảnh hưởng khá mạnh tới nền văn học cổ điển của Nhật Bản khi có nguyên một mảng thơ đã hình thành và được thực hiện để miêu tả hình dáng các loại bánh này khiến cho nó còn nổi tiếng hơn nữa.

Nguyên liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Một số loại bánh trong một buổi tiệc trà.

Do loại đồ ngọt này thường trở thành món ăn nhẹ để nhâm nhi với nước trà nên hàm lượng đồ ngọt rất cao còn dầu rất ít khi được sử dụng. Nguyên liệu thực vật được sử dụng để làm bánh như xi rô, gạo, lúa mì, đậu đỏ... được dùng nhiều hơn so với các loại đồ ngọt khác, dù rất hiếm khi được sử dụng nhưng trái cây tươi, khô hay hấp chín cũng có thể được dùng cho việc làm bánh. Do có nguyên liệu hầu hết là thực vật nên loại bánh này được đánh giá là tốt cho sức khỏe.

Đường chỉ được sử dụng trong thời kỳ hiện đại, do đường trắng không thể nào dễ kiếm từ thời Edo trở về trước tại Nhật Bản. Trước khi có đường và lúc nó còn quá mắc như loại wasanbon thì chất ngọt thêm vào nếu cần được chiết xuất từ quả hồng.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng vì hương vị đặc biệt cũng như độ ngọt dịu mà có rất nhiều loại wagashi đã được làm từ các nguyên liệu khác nhau nhưng được phân ra ba loại chính tùy theo lượng nước chứa trong nó là:

  • Higashi (干菓子, ひがし): Chứa lượng nước thấp hơn 10%.
  • Han namagashi (半生菓子, はんなまがし): Chứa lượng nước từ 10% - 30%.
  • Namagashi (生菓子, なまがし): Chứa lượng nước đến hơn 30%.

Một số loại Wagashi[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]