Wayne Gretzky

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Wayne Gretzky
Hockey Hall of Fame, 1999
A colour photograph of Wayne Gretzky in 2006
Gretzky in 2006
Born 26 tháng 1, 1961 (59 tuổi)
Brantford, Ontario, Canada
Height 6 ft 0 in (183 cm)
Weight 185 lb (84 kg; 13 st 3 lb)
Position Centre
Shot Left
Played for Indianapolis Racers
Edmonton Oilers
Los Angeles Kings
St. Louis Blues
New York Rangers
National team  Canada
Playing career 1978–1999
Website Trang web chính thức

Wayne Gretzky Douglas CC (/ˈɡrɛtski/; sinh ngày 26 tháng 1 năm 1961) là một cựu vận động viên chuyên nghiệp và cựu huấn luyện viên trưởng hockey trên băng người Canada. Ông đã chơi 20 mùa trong Giải khúc côn cầu quốc gia (NHL) cho bốn đội từ 1979 đến 1999. Biệt danh là "Người vĩ đại",[1] ông được nhiều người chơi thể thao, người chơi và chính NHL gọi là "người chơi khúc côn cầu vĩ đại nhất". Gretzky là cầu thủ ghi bàn hàng đầu trong lịch sử NHL, với nhiều bàn thắng và hỗ trợ hơn bất kỳ cầu thủ nào khác.[2] Ông hỗ trợ ghi bàn hơn bất kỳ cầu thủ nào khác ghi được tổng số điểm và là cầu thủ NHL duy nhất có tổng số hơn 200 điểm trong một mùa - một kỳ tích ông ấy đã lặp lại bốn lần. Ngoài ra, Gretzky còn hơn 100   điểm trong 16 mùa giải chuyên nghiệp, 14 trong số đó là các mùa liên tiếp. Vào thời điểm nghỉ hưu năm 1999, ông đã nắm giữ 61 kỷ lục NHL: 40 kỷ lục mùa giải thường xuyên, 15 kỷ lục playoff và 6 kỷ lục All-Star.[3]

Sinh ra và lớn lên ở Brantford, Ontario, Canada, Gretzky đã mài giũa kỹ năng của mình tại một sân sau và thường xuyên chơi khúc côn cầu giải nhỏ ở cấp độ vượt xa các bạn cùng lứa.[4] Mặc dù có tầm vóc, sức mạnh và tốc độ không mấy ấn tượng, trí thông minh và khả năng đọc trận đấu của Gretzky là vô song. Anh ta rất giỏi trong việc tránh các kiểm tra từ những người chơi đối địch, và luôn dự đoán nơi sẽ diễn ra và thực hiện đúng động tác vào đúng thời điểm. Gretzky trở nên nổi tiếng với việc thiết lập các thế chơi đằng sau lưới của đối thủ, một khu vực có biệt danh là "văn phòng của Gretzky".[5]

Vào năm 1978, Gretzky đã ký hợp đồng với Hiệp hội khúc côn cầu thế giới Indianapolis (WHA), nơi anh chơi một thời gian ngắn trước khi được giao dịch với đội bóng dầu Edmonton. Khi WHA xếp lại, các Oilers gia nhập NHL, nơi anh đã thiết lập nhiều kỷ lục ghi bàn và dẫn dắt đội của anh tới bốn chức vô địch Stanley Cup. Hợp đồng của Gretzky với Los Angeles Kings vào ngày 9 tháng 8 năm 1988, đã có tác động ngay lập tức đến thành tích của đội, cuối cùng đã đưa họ đến Chung kết Stanley Cup 1993, và ông được ghi nhận là người nổi tiếng về khúc côn cầu ở California.[6] Gretzky đã chơi ngắn gọn cho St. Louis Blues trước khi kết thúc sự nghiệp của mình với New York Rangers. Gretzky đã giành được chín danh hiệu Hart với tư cách là người chơi có giá trị nhất, 10 danh hiệu Art Ross cho cầu thủ ghi nhiều điểm nhất trong một mùa, hai danh hiệu Conn Smythe là MVP playoff và năm giải thưởng Lester B. Pearson (hiện được gọi là Giải thưởng Ted Lindsay) cho người chơi xuất sắc nhất được đánh giá bởi đồng nghiệp của mình. Gretzky đã dẫn đầu giải đấu về số bàn thắng năm lần và hỗ trợ 16 lần, giành Cúp tưởng niệm Lady Byng về thể thao và hiệu suất năm lần, và thường lên tiếng chống lại việc đánh nhau trong khúc côn cầu.[7]

Sau khi nghỉ hưu năm 1999, Gretzky ngay lập tức được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng khúc côn cầu, khiến ông trở thành cầu thủ gần đây nhất được đưa vào Đại sảnh khi vẫn còn chờ nghỉ hưu. NHL đã giã chiếc áo số 99 của mình trên toàn giải đấu, khiến ông trở thành cầu thủ duy nhất nhận được vinh dự như vậy. Gretzky là một trong sáu cầu thủ được bầu chọn vào Đội hình toàn sao của Liên đoàn khúc côn cầu trên băng quốc tế (IIHF).[8] Gretzky trở thành giám đốc điều hành cho đội khúc côn cầu nam quốc gia Canada trong Thế vận hội mùa đông 2002, trong đó đội giành huy chương vàng. Năm 2000, ông trở thành chủ sở hữu một phần của Phoenix Coyotes, và sau khóa 2004 20040505, ông trở thành huấn luyện viên trưởng của đội. Năm 2004, Gretzky được giới thiệu vào Nhà lưu danh thể thao Ontario.[9] Vào tháng 9 năm 2009, sau khi Phoenix Coyotes phá sản, Gretzky đã từ chức huấn luyện viên trưởng và từ bỏ cổ phần sở hữu của mình. Vào tháng 10 năm 2016, ông trở thành đối tác và phó chủ tịch của Tập đoàn giải trí Oilers.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Wayne Gretzky finally explains meaning behind 'The Great One' nickname”. Yahoo! Sports. Ngày 21 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016. 
  2. ^ Stubbs, Dave (ngày 1 tháng 1 năm 2017). “Wayne Gretzky: 100 Greatest NHL Players”. nhl.com. National Hockey League. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2018. 
  3. ^ For his titles, see “University of Alberta: Honorary Degree Recipients (2000–2007)”. Ualbertacentennial.ca. 2000. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 
  4. ^ Schwartz, Larry. 'Great' and 'Gretzky' belong together”. espn.go.com. ESPN. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2006. 
  5. ^ Sullivan, Tim. “Gretzky's office”. St. Petersburg Times. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  6. ^ Allen, Kevin (ngày 10 tháng 8 năm 2008). “Gretzky trade remembered for 'seismic impact'. USA Today. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2011. 
  7. ^ Duhatschek, Eric (ngày 2 tháng 9 năm 2011). “Getting rid of hockey's goons”. The Globe and Mail (Canada). Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. Once upon a time, Wayne Gretzky opposed fighting in hockey as passionately as Sinden, suggesting soon after he arrived in Los Angeles that hockey would never be a mainstream sport as long as fighting was condoned the way it was. Ultimately, as Gretzky's voice was ignored for years and years, he stopped contributing to the conversation. People can only be shouted down for so long before they figure it's somebody else's turn to carry the torch. 
  8. ^ “IIHF Centennial All-Star Team”. iihf.com. International Ice Hockey Federation. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2014. 
  9. ^ “Wayne Gretzky”. oshof.ca. Ontario Sports Hall of Fame. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014.