Wikipedia:Bài viết chọn lọc/2020

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020
PODY barnstar.png
Cscr-featured.svg Bài viết chọn lọc năm 2020
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
PODY barnstar.png

Tuần 1

10-L 2005 track.png

Áp thấp nhiệt đới Ten (2005) là một xoáy thuận nhiệt đới hoạt động với thời gian ngắn và yếu, là hệ thống thứ mười của mùa bão kỷ lục Bắc Đại Tây Dương 2005. Nó hình thành vào ngày 13 tháng 8 từ một con sóng nhiệt đới xuất phát từ bờ biển phía tây của châu Phi vào ngày 8 tháng 8. Do tác động mạnh của gió đứt, nó suy yếu dần và không còn đủ mạnh nên chỉ còn được đánh giá là áp thấp nhiệt đới. Nó bị suy yếu nặng vào ngày 14 tháng 8, nhưng tàn dư của nó đã góp phần vào sự hình thành bão Katrina, sau khi hợp nhất với một con sóng nhiệt đới vào ngày 19 tháng 8. Do đó, nó thường được gọi là "tiền thân của Katrina". Áp thấp nhiệt đới này không ảnh hưởng đến đất liền và không trực tiếp gây ra bất kỳ trường hợp tử vong hoặc thiệt hại đáng kể nào. (xem tiếp…)

Tuần 2

(Từ trái sang phải) Nhà sản xuất Kathleen Kennedy, đạo diễn kiêm nhà biên kịch J. J. Abrams và nhà biên kịch Lawrence Kasdan phát biểu tại sự kiện San Diego Comic-Con International 2015.

Star Wars: Thần lực thức tỉnh là một phim điện ảnh sử thi không gian của Mỹ năm 2015 do J. J. Abrams đạo diễn. Đây là phần tiếp nối của phim điện ảnh Sự trở lại của Jedi công chiếu năm 1983, đồng thời cũng là phần phim đầu tiên trong bộ ba phần phim hậu truyện của loạt phim Star Wars. Phim do hai hãng phim Lucasfilm Ltd.Bad Robot Productions sản xuất, đồng thời được phân phối trên toàn thế giới bởi hãng Walt Disney Studios Motion Pictures. Star Wars: Thần lực thức tỉnh có sự tham gia diễn xuất của Harrison Ford, Mark Hamill, Carrie Fisher, Adam Driver, Daisy Ridley, John Boyega, Oscar Isaac, Lupita Nyong'o, Andy Serkis, Domhnall Gleeson, Anthony Daniels, Peter MayhewMax von Sydow. Đây là phim điện ảnh đầu tiên trong loạt phim Star Wars không có sự giúp đỡ sản xuất của nhà sáng tạo thương hiệu George Lucas. Phim lấy bối cảnh vào thời điểm 30 năm sau các sự kiện ở phần phim Sự trở lại của Jedi; theo chân ba nhân vật mới là Rey, Finn và Poe Dameron trong cuộc tìm kiếm hiệp sĩ Jedi cuối cùng, Luke Skywalker, và cuộc chiến của họ cùng phe Kháng chiến, dưới sự dẫn dắt từ những cựu binh của Liên minh Nổi dậy, chống lại Kylo Ren và Tổ chức Thứ nhất, một tàn dư của Đế chế Thiên hà.

Dự án Thần lực thức tỉnh được công bố ngay sau khi Công ty Walt Disney mua lại Lucasfilm vào tháng 10 năm 2012. Phim do J. J. Abrams, Bryan BurkKathleen Kennedy sản xuất. Abrams và Lawrence Kasdan, đồng biên kịch của Đế chế phản công (1980) và Sự trở lại của Jedi (1983) đã cùng nhau tái hợp để viết lại phần kịch bản ban đầu của Michael Arndt. John Williams, nhà soạn nhạc cho tất cả các phần phim trước đó, cũng trở lại để thực hiện phần nhạc nền cho bộ phim. George Lucas, cha đẻ của thế giới Star Wars, đảm nhiệm vai trò cố vấn sáng tạo cho các nhà sản xuất trong những ngày đầu làm phim. Thần lực thức tỉnh bắt đầu được bấm máy vào tháng 4 năm 2014 ở Abu DhabiIceland, với công đoạn quay phim chính được thực hiện ở Ireland và tại hãng phim Pinewood Studios ở Anh. Phim được đóng máy vào tháng 11 năm 2014. Đây là phim điện ảnh người đóng đầu tiên kể từ khi Sự báo thù của người Sith (2005) được phát hành mười năm trước đó. (xem tiếp…)

Tuần 3

Fred Barnard07.jpg

Thiên kiến xác nhận là một khuynh hướng của con người ưa chuộng những thông tin nào xác nhận các niềm tin hoặc giả thuyết của chính họ. Con người biểu hiện thiên kiến hoặc định kiến này khi họ thu thập hoặc ghi nhớ thông tin một cách có chọn lọc theo cảm quan của mình, hoặc khi họ diễn giải nó một cách thiên vị và thường đi kèm với sự từ chối xem xét các góc nhìn khác. Ảnh hưởng của thiên kiến xác nhận mạnh hơn đối với các vấn đề liên quan tới cảm xúc, hoặc những niềm tin đã ăn sâu vào tâm thức. Người ta cũng có xu hướng diễn dịch bằng chứng không rõ ràng để ủng hộ cho lập trường có sẵn của họ. Sự tìm kiếm bằng chứng, giải thích và ghi nhớ một cách thiên vị cũng được viện dẫn để giải thích phân cực thái độ (khi bất đồng trở nên cực đoan hơn mặc dù các bên khác nhau đều tiếp xúc với cùng một bằng chứng), tín điều cố chấp (khi những tín điều vẫn tồn tại ngay cả khi bằng chứng rằng nó sai lầm đã được đưa ra), hiệu ứng ưu tiên phi lý (khi người ta tin tưởng hơn vào thông tin nhận trước trong một loạt thông tin), tương quan ảo tưởng (khi người ta nhận thức một cách sai lầm về mối tương quan giữa hai sự kiện hoặc tình huống). Một loạt các thí nghiệm trong những năm 1960 đề xuất rằng con người có xu hướng thiên vị những gì xác nhận niềm tin hiện có của họ. Các nghiên cứu sau đó đã giải thích lại những kết quả này như một khuynh hướng kiểm tra ý niệm một chiều, tập trung vào một khả năng và bỏ qua những khả năng khác. Trong một số tình huống, khuynh hướng này có thể làm lệch lạc nhận thức và kết luận của con người. Quyết định sai lầm do những thiên kiến này ​​đã được thấy trong các bối cảnh chính trị và tổ chức. (xem tiếp…)

Tuần 4

Nữ diễn viên Matsuoka Mayu (ảnh) lồng tiếng nhân vật chính Ishida Shōya lúc đang là học sinh sơ trung trong phim.

Dáng hình thanh âm là một bộ phim điện ảnh hoạt hình Nhật Bản đề tài chính kịch học đường ra mắt năm 2016, do xưởng phim Kyōto Animation sản xuất, Yamada Naoko đạo diễn và Yoshida Reiko chắp bút phần kịch bản. Người phụ trách khâu thiết kế nhân vật nổi bật trong phim là Nishiya Futoshi trong khi phần âm nhạc được đảm nhiệm bởi nhà soạn nhạc Ushio Kensuke. Nội dung chính của phim xoay quanh hai nhân vật chính là Ishida Shōya và cô bạn khiếm thính bẩm sinh Nishimiya Shōko - mối quan hệ của họ đã vẽ nên mối liên kết giữa con người với con người và cả những thất vọng trong giao tiếp. Tác phẩm dựa trên manga cùng tên do nữ tác giả manga Ōima Yoshitoki viết kịch bản và vẽ minh họa; manga nguyên tác đã được cấp phép bản quyền cho nhà xuất bản Trẻ dưới tựa đề tiếng Việt chính thức là Dáng hình thanh âm. Phim công chiếu lần đầu tại Nhật Bản vào ngày 17 tháng 9 năm 2016 và trên toàn cầu từ tháng 2 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018.

Dáng hình thanh âm đã giành được một số đề cử giải thưởng, trong đó gồm đề cử "Phim hoạt hình xuất sắc nhất" tại Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 40, chiến thắng tại Giải phê bình điện ảnh Nhật Bản lần thứ 26 hạng mục phim hoạt hình, đề cử tại giải thưởng Liên hoan Nghệ thuật truyền thông Nhật Bản lần thứ 20, và được Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản khuyến nghị nên xem. Bộ phim đã có nhiều buổi công chiếu dành cho người khiếm thính tại các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. (xem tiếp…)

Tuần 5

John Lennon Imagine 1971.jpg

"Imagine" là ca khúc do nhạc sĩ-ca sĩ người Anh John Lennon sáng tác và thể hiện. Đây là đĩa đơn bán chạy nhất trong sự nghiệp đơn ca của ca sĩ này. Lời bài hát cổ vũ người nghe hãy tưởng tượng ra một thế giới hoà bình, không có biên giới chia cắt các quốc gia, không có sự chia rẽ giữa các tôn giáo và sắc tộc, và thể hiện mong muốn rằng xã hội loài người sẽ sống một cuộc sống không chịu sự chi phối của của cải vật chất. Lennon và Yoko Ono đồng sản xuất đĩa đơn này cũng như album cùng tên với Phil Spector. Quá trình thu âm bắt đầu tại phòng thu tại gia của Lennon tại Công viên Tittenhurst, Anh vào tháng 5 năm 1971. Công đoạn ghi âm đè cuối cùng diễn ra tại phòng thu Record Plant, ở thành phố New York vào tháng 7. Một tháng sau khi phát hành dưới dạng đĩa than LP vào tháng 9, Lennon cho ra mắt "Imagine" dưới dạng một đĩa đơn tại Hoa Kỳ; ca khúc lên tới vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 còn bản thu trên đĩa than LP đứng đầu bảng xếp hạng Anh quốc vào tháng 11, sau này trở thành album có thành công chuyên môn và thương mại cao nhất trong sự nghiệp solo của Lennon. Broadcast Music, Inc. thống kê "Imagine" là một trong số 100 ca khúc được biểu diễn nhiều nhất thế kỷ 20. Ca khúc đứng thứ 30 trong danh sách 365 Ca khúc của Thế kỷ có ảnh hưởng lịch sử lớn nhất của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. (xem tiếp…)

Tuần 6

Trần Nhân Tông.jpg

Trần Nhân Tông là vị hoàng đế thứ ba của vương triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Là con trai trưởng của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đã được vua cha truyền ngôi vào tháng 11 năm 1278 – lúc ông chưa đầy 20 tuổi. Ông trị vì từ năm 1278 đến năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng từ năm 1293 cho đến khi qua đời. Vị hoàng đế trẻ sớm phải đương đầu với hiểm họa xâm lược từ đế quốc Mông-Nguyên hùng mạnh ở phương Bắc. Do vậy, ngay sau khi lên ngôi Trần Nhân Tông đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao sức mạnh kinh tế và ổn định chính trịxã hội của Đại Việt, đồng thời xây dựng quan hệ tích cực với nước láng giềng phía nam là Chiêm Thành. Sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược của người Mông, Trần Nhân Tông đã khôi phục được sự ổn định và hưng thịnh của Đại Việt, đồng thời thực thi phương sách ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn với nhà Nguyên. Năm 1293, ông truyền ngôi cho thái tử Trần Thuyên (tức vua Trần Anh Tông) và lên làm Thái thượng hoàng. Sau đó Nhân Tông xuất gia tu hành theo đạo Phật và lấy hiệu Trúc Lâm đại sĩ, là vị tổ sáng lập của Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam và tinh thần nhập thế. Trần Nhân Tông được nhiều sử gia đánh giá là một vị vua anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ 13, cũng cho việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng cương thổ đất nước. (xem tiếp…)

Tuần 7

Virus

Virus là một tác nhân truyền nhiễm chỉ nhân lên được khi ở bên trong tế bào sống của một sinh vật khác. Virus có thể xâm nhiễm vào tất cả các dạng sinh vật, từ động vật, thực vật cho tới vi khuẩnvi khuẩn cổ. Kể từ bài viết đầu tiên của Dmitri Ivanovsky năm 1892, mô tả về một dạng mầm bệnh không thuộc vi khuẩn mà lây nhiễm vào cây thuốc lá, và sự khám phá ra virus khảm thuốc lá của Martinus Beijerinck năm 1898, cho đến nay có khoảng 5.000 loại virus đã được miêu tả chi tiết, mặc dù vẫn còn có tới hàng triệu dạng virus khác nhau. Virus được tìm thấy ở hầu hết mọi hệ sinh thái trên Trái Đất và là dạng có số lượng nhiều nhất trong tất cả các thực thể sinh học. Khoa học nghiên cứu virus được biết với tên virus học (virology), một chuyên ngành phụ của vi sinh vật học. Các phần tử (hay hạt) virus (được gọi là virion) được tạo thành từ hai hoặc ba bộ phận. Hình dạng của virus có sự khác nhau, từ dạng xoắn ốc hay khối hai mươi mặt đều đơn giản cho tới những cấu trúc phức tạp hơn. Một virus có kích thước trung bình vào khoảng 1/100 kích cỡ trung bình của một vi khuẩn. Hầu hết virus đều quá nhỏ nên không thể quan sát trực tiếp dưới kính hiển vi quang học. Virus được công nhận là một dạng sống bởi một số nhà khoa học, do chúng có mang vật chất di truyền, có thể sinh sản và tiến hóa thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên. (xem tiếp…)

Tuần 8

Các vùng chiến sự chính trong Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979

Chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979 là cuộc chiến ngắn nhưng bạo liệt khi Trung Quốc đem quân đánh vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc bắt đầu vào ngày 17 tháng 2 năm 1979. Chiến tranh biên giới Việt – Trung xuất phát từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia và ý đồ “dạy cho Việt Nam một bài học” của Đặng Tiểu Bình, kéo dài trong chừng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía.

Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc hoàn thành rút quân vào ngày 18 tháng 3 năm 1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn vùng biên. Sau đó cả Trung Quốc và Việt Nam đều tuyên bố đã chiến thắng.

Mục tiêu của Trung Quốc buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới vẫn còn tiếp diễn thêm hơn mười năm. Tới năm 1991, Quan hệ ngoại giao Trung–Việt mới chính thức được bình thường hóa. (xem tiếp…)

Tuần 9

Siegmund Lubin, người đã thành lập Công ty Sản xuất Lubin

How Brown Saw the Baseball Game, còn được biết với cái tên How Jones Saw the Baseball Game, là một bộ phim câm ngắn thuộc thể loại hài của Mỹ được sản xuất và phát hành vào năm 1907 bởi Công ty Sản xuất Lubin. Bộ phim theo chân một người hâm mộ bóng chày tên là Brown. Ông uống rất nhiều rượu trước khi xem một trận bóng chày và trở nên say đến nỗi ông trông thấy trận đấu như chuyển động ngược lại. Trong quá trình sản xuất, để đạt được hiệu ứng này, nhà làm phim đã sử dụng một kỹ thuật đặc biệt.

Bộ phim được phát hành vào tháng 11 năm 1907 và nhận được những đánh giá tích cực trong số phát hành năm 1908 của tạp chí điện ảnh The Moving Picture World, cho biết bộ phim đã thành công và "thực sự hài hước". Tính đến năm 2015, không ai chắc chắn tồn tại bất cứ một bản phát hành của bộ phim, cũng như danh tính của dàn diễn viên và đoàn làm phim. Các nhà nghiên cứu lịch sử điện ảnh đã ghi nhận những điểm tương đồng giữa cốt truyện của How Brown Saw the Baseball Game và bộ phim hài How the Office Boy Saw the Ball Game của đạo diễn Edwin S. Porter phát hành năm 1906. (xem tiếp…)

Tuần 10

Các mảnh kẽm 99,995%

Kẽm là một nguyên tố kim loại lưỡng tính, kí hiệu là Zn và có số nguyên tử là 30. Nó là nguyên tố đầu tiên trong nhóm 12 của bảng tuần hoàn nguyên tố. Kẽm, trên một số phương diện, có tính chất hóa học giống với magiê, vì ion của chúng có bán kính giống nhau và có trạng thái ôxy hóa duy nhất ở điều kiện bình thường là +2. Kẽm là nguyên tố phổ biến thứ 24 trong lớp vỏ Trái Đất và có 5 đồng vị bền. Quặng kẽm phổ biến nhất là quặng sphalerit, một loại kẽm sulfua. Những mỏ khai thác lớn nhất nằm ở Úc, CanadaHoa Kỳ. Công nghệ sản xuất kẽm bao gồm tuyển nổi quặng, thiêu kết, và cuối cùng là chiết tách bằng dòng điện. Đồng thau là một hợp kim của đồng và kẽm đã bắt đầu được sử dụng muộn nhất từ thế kỷ 10 TCN tại Judea và thế kỷ 7 TCN tại Hy Lạp cổ đại. Mãi cho đến thế kỷ 12 thì kẽm nguyên chất mới được sản xuất quy mô lớn ở Ấn Độ, và đến cuối thế kỷ 16 thì người châu Âu mới biết đến kẽm kim loại. Các mỏ ở Rajasthan được khai thác từ thế kỷ 6 TCN. Cho đến nay, bằng chứng cổ xưa nhất về kẽm tinh khiết là từ Zawar ở Rajasthan vào khoảng thế kỷ 9, người ta dùng phương pháp chưng cất để tạo ra kẽm nguyên chất. Các nhà giả kim thuật đốt kẽm trong không khí để tạo thành một chất mà họ gọi là "len của nhà triết học" hay "tuyết trắng". (xem tiếp…)

Tuần 11

Bìa của bài thơ nói về chủ đề tiến hóa của Erasmus Darwin, Temple of Nature cho thấy một nữ thần kéo lại bức màn từ thiên nhiên (bên trong là Artemis). Tượng trưng và ẩn dụ thường đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử sinh học.

Lịch sử sinh học là nghiên cứu lịch sử về thế giới sống từ thời cổ đại đến hiện đại. Mặc dù khái niệm sinh học với tư cách là một lĩnh vực độc lập chỉ mới xuất hiện trong thế kỷ 19, ngành khoa học này đã có tiền đề trong nhiều lĩnh vực như y học, dược học cho đến lịch sử tự nhiên, với nguồn gốc từ tận nền y học Ấn Độ cổ đại Ayurveda, y học Ai Cập cổ đại và các tác phẩm của AristotleGalen trong thế giới Hy-La. Các tác phẩm cổ đại được phát triển thêm trong thời kỳ Trung Cổ bởi các thầy thuốc Hồi giáo và các học giả như Avincenna. Trong thời kỳ Phục hưng và đầu thời kỳ hiện đại, những tư tưởng sinh học đã được cách mạng hóa ở châu Âu nhờ những quan tâm được làm mới lại trong chủ nghĩa kinh nghiệm và việc phát hiện nhiều sinh vật mới lạ. Những học giả nổi bật trong giai đoạn này là các nhà giải phẫu Andreas VesaliusWilliam Harvey, những người đã tiến hành các thí nghiệm và quan sát chi tiết trong sinh lý học; hay các nhà tự nhiên học như Carl LinnaeusGeorges-Louis Leclerc, họ đã bắt đầu phân loại các loài và ghi chép hóa thạch cũng như nghiên cứu sự phát triển và tập tính sinh vật. Antonie van Leeuwenhoek khám phá ra thế giới vi sinh vật chưa từng được biết đến khi phát minh ra kính hiển vi, đặt cơ sở cho sự hình thành của thuyết tế bào. Vị thế ngày càng tăng của ngành thần học tự nhiên trong quá trình cạnh tranh với triết học cơ học (mechanical philosophy) đã thúc đẩy sự phát triển của ngành lịch sử tự nhiên (mặc dù nó vẫn còn bám vào luận cứ mục đích cho rằng Đấng sáng tạo thiết kế ra vạn vật). (xem tiếp…)

Tuần 12

Những người Trung Quốc biểu tình cầm ảnh chân dung Mao Trạch Đông tại Thẩm Dương ngày 18 tháng 9 năm 2012.

Biểu tình bài Nhật tại Trung Quốc năm 2012 là một loạt các cuộc biểu tình bài Nhật Bản được tổ chức ở các thành phố lớn tại Trung QuốcĐài Loan trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2012. Nguyên nhân chính của các cuộc biểu tình là sự leo thang tranh chấp quần đảo Senkaku giữa Trung Quốc và Nhật Bản xoay quanh thời điểm kỷ niệm Sự kiện Phụng Thiên năm 1931, một xúc tác de facto để Nhật Bản xâm lược Mãn Châu, đỉnh điểm là một thất bại bẽ mặt của Trung Quốc và một chiến thắng quyết định của Nhật Bản trong việc hợp nhất và sáp nhập Mãn Châu. Các cuộc biểu tình nổ ra tại mỗi thành phố của Trung Quốc kể từ sự kiện nhà hoạt động Hồng Kông đổ bộ quần đảo Senkaku và chính phủ Nhật Bản tiến hành quốc hữu hóa quần đảo Senkaku, trở thành cuộc biểu tình lớn nhất kể từ khi hai quốc gia bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1972. Những người phản đối tại một số thành phố sau đó trở nên bạo lực, chính quyền địa phương bắt đầu bắt giữ người biểu tình và cấm các cuộc biểu tình. Ngoài các cuộc biểu tình bài Nhật và chỉ trích Hoa Kỳ, một số cuộc biểu tình đã chỉ trích chính phủ Trung Quốc về những bất mãn xã hội. Tác động từ căng thẳng ngoại giao khiến thương mại song phương giữa hai quốc gia bị thiệt hại và ảnh hưởng kéo dài trong vài năm tiếp theo. (xem tiếp…)

Tuần 13

Chân dung Emmy Noether

Amalie Emmy Noether (23 tháng 3 năm 1882 – 14 tháng 4 năm 1935) là nhà toán học có ảnh hưởng người Đức nổi tiếng vì những đóng góp nền tảng và đột phá trong lĩnh vực đại số trừu tượngvật lý lý thuyết. Được Pavel Alexandrov, Albert Einstein, Jean Dieudonné, Hermann Weyl, Norbert Wiener và những người khác miêu tả là một trong những nhà nữ toán học quan trọng nhất trong lịch sử toán học, bà đã làm nên cuộc cách mạng trong lý thuyết vành, trường và đại số trên một trường. Trong vật lý học, định lý Noether giải thích mối liên hệ sâu sắc giữa tính đối xứng và các định luật bảo toàn.

Các công trình toán học của Noether được chia thành ba "kỷ nguyên" chính. Trong giai đoạn đầu (1908–19), bà có những đóng góp quan trọng cho lý thuyết các bất biến đại số và trường số. Nghiên cứu về bất biến vi phân trong phép tính biến phân, hay định lý Noether, đã trở thành "một trong những định lý toán học quan trọng nhất từng được chứng minh giúp thúc đẩy sự phát triển của vật lý hiện đại". Trong kỷ nguyên thứ hai (1920–26), bà bắt đầu công trình mà "thay đổi bộ mặt của đại số [trừu tượng]". Trong bài báo Idealtheorie in Ringbereichen (Lý thuyết các iđêan trong miền vành, 1921) Noether phát triển lý thuyết iđêan trong vành giao hoán trở thành một công cụ mạnh với ứng dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực. (xem tiếp…)

Tuần 14

AnneFrankSchoolPhoto.jpg

Anne Frank (12 tháng 6 năm 1929 - 12 tháng 3 năm 1945) là nhà văn và tác giả hồi ký người Đức. Cô là một trong những nạn nhân người Do Thái được biết đến nhiều nhất trong cuộc tàn sát Holocaust. Tác phẩm Nhật ký Anne Frank, ghi chép lại cuộc đời của cô trong khi ẩn náu lúc quân đội Đức Quốc xã chiếm đóng thời Thế chiến thứ 2, là một trong những quyển sách nổi tiếng nhất thế giới, gây cảm hứng cho nhiều vở diễn và tác phẩm điện ảnh. Sinh ra tại Frankfurt am Main, Đức, Anne lớn lên gần Amsterdam, Hà Lan. Sau khi Adolf Hitler lên nắm quyền vào tháng 1 năm 1933, gia đình Anne Frank rời khỏi Frankfurt đến Amsterdam cuối năm 1933 để thoát khỏi sự truy đuổi của Đức Quốc xã. Vào năm 1941, cô bị tước đi tư cách công dân và trở thành người không có quốc tịch. Từ tháng 7 năm 1942, họ sống trốn tránh trong những căn phòng được ngụy trang, khi đó Anne 13 tuổi. Sau hai năm, do bị phản bội, gia đình Anne bị phát hiện và đưa tới trại tập trung của Đức Quốc xã. Vào tháng 2 hoặc tháng 3 năm 1945, Anne cùng chị gái Margot Frank lìa đời tại trại Bergen-Belsen, chỉ vài tuần lễ trước khi binh lính Anh đến giải phóng trại vào ngày 15 tháng 4 năm 1945. Trại tập trung bị thiêu rụi để dập dịch, còn thi thể của Anne và Margot bị vùi trong một ngôi mộ tập thể, cho đến nay vẫn chưa xác định được địa điểm. (xem tiếp…)

Tuần 15

Một phiên bản của động tác "ném bốn hướng" (shihōnage) với người tấn công đang đứng và người phòng thủ ngồi.

Aikido (Hiệp khí đạo) là một môn võ thuật Nhật Bản hiện đại được phát triển bởi Ueshiba Morihei như một sự tổng hợp các nghiên cứu võ học, triết học và tín ngưỡng của ông. Aikido có thể được dịch là "con đường hiệp nhất (với) năng lượng cuộc sống" hoặc "con đường của tinh thần hài hòa". Mục tiêu của Ueshiba là tạo ra một nghệ thuật mà các môn sinh có thể sử dụng để tự bảo vệ mình trong khi vẫn bảo vệ người tấn công khỏi bị thương. Các kĩ thuật của Aikido bao gồm: irimi (nhập thân), chuyển động xoay hướng (tenkan - chuyển hướng đà tấn công của đối phương), các loại động tác ném và khóa khớp khác nhau.

Aikido chủ yếu xuất phát từ môn võ Daitō-ryū Aiki-jūjutsu, nhưng bắt đầu tách ra từ nó vào cuối những năm 1920, một phần do sự liên quan của Ueshiba với tôn giáo Ōmoto-kyō. Những tài liệu của những môn sinh ban đầu của Ueshiba ghi lại tên gọi môn võ là aiki-jūjutsu. Các môn sinh cấp cao của Ueshiba có những cách tiếp cận khác nhau với Aikido, phụ thuộc phần nào vào thời gian họ học tập với ông. Ngày nay, Aikido hiện diện trên khắp thế giới trong một số phong cách, với phạm vi giải thích và nhấn mạnh rộng rãi. Tuy nhiên, tất cả các phong cách này đều chia sẻ nguồn gốc từ các kỹ thuật do Ueshiba xây dựng và hầu hết đều quan tâm đến sự an toàn của người tấn công. (xem tiếp…)

Tuần 16

Hình ảnh kính hiển vi điện tử quét của một bạch cầu trung tính (vàng), đang nuốt vi khuẩn bệnh than (cam). Bạch cầu hạt trung tính là loại chiếm số lượng nhiều nhất trong tổng số bạch cầu và là một bộ phận thiết yếu của hệ miễn dịch tự nhiên của cơ thể người.

Hệ miễn dịch là một hệ thống bảo vệ vật chủ gồm nhiều cấu trúc và quá trình sinh học của cơ thể nhằm bảo vệ chống lại bệnh tật. Để hoạt động bình thường, hệ thống miễn dịch phải phát hiện được rất nhiều yếu tố, gọi là mầm bệnh, có thể là từ virus đến ký sinh trùng, và phải phân biệt chúng với những khỏe mạnh của cơ thể. Ở nhiều loài, hệ thống miễn dịch có thể được phân thành các hệ thống nhỏ hơn, chẳng hạn như hệ thống miễn dịch bẩm sinh với hệ thống miễn dịch thu được, hoặc miễn dịch thể dịch và miễn dịch qua trung gian tế bào. Ở người, hàng rào máu–não, hàng rào máu–dịch não và các hàng rào chất lỏng–não tương tự tách biệt hệ thống miễn dịch bình thường với hệ thống miễn dịch não, vốn chuyên bảo vệ não. Các mầm bệnh có thể nhanh chóng tiến hóa và thích nghi, và do đó có thể tránh bị phát hiện và không bị vô hiệu hoá bởi hệ thống miễn dịch; tuy nhiên, nhiều cơ chế phòng thủ cũng đã tiến hóa để nhận diện và trung hòa mầm bệnh. Ngay cả các sinh vật đơn bào đơn giản như vi khuẩn cũng có hệ thống miễn dịch thô sơ dưới dạng các enzym bảo vệ (ở đây là enzym giới hạn) để chống lại các bệnh do thể thực khuẩn. Một số cơ chế miễn dịch cơ bản khác đã phát triển trong các loài sinh vật nhân chuẩn cổ đại và vẫn còn trong hậu duệ hiện đại của chúng, như ở thực vậtđộng vật không xương sống. Các cơ chế này bao gồm thực bào, các peptide kháng khuẩn được gọi là defensin, và hệ thống bổ thể. Các động vật có quai hàm, bao gồm cả con người, còn có cơ chế phòng vệ tinh vi hơn, bao gồm khả năng thích ứng theo thời gian để nhận ra các mầm bệnh cụ thể hiệu quả hơn. (xem tiếp…)

Tuần 17

Trzy krzyze.jpg

Thảm sát Katyn (cũng được gọi là vụ thảm sát rừng Katyn) là một cuộc thảm sát những người quốc gia Ba Lan do Bộ Dân ủy Nội vụ, cảnh sát mật Liên xô thực hiện vào tháng 4 và tháng 5 năm 1940. Vụ thảm sát khởi đầu từ đề xuất của L. P. Beriya hành quyết tất cả các sỹ quan Ba Lan, ngày 5 tháng 3 năm 1940. Tài liệu chính thức này đã được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, gồm cả lãnh đạo I. V. Stalin, ký và đóng dấu. Số lượng nạn nhân được ước tính khoảng 22.000 người, với con số thấp là 21.768 người. Mặc dù các vụ giết hại cũng xảy ra ở các nhà tù KalininKharkiv và những nơi khác, vụ thảm sát được đặt theo tên của Rừng Katyn, nơi một số ngôi mộ tập thể được phát hiện lần đầu tiên. Trong tổng số người bị giết hại, khoảng 8.000 là các sỹ quan Ba Lan bị bắt làm tù binh trong cuộc xâm chiếm Ba Lan của Liên Xô năm 1939, 6.000 người khác là các sỹ quan cảnh sát, số còn lại là những người thuộc giới trí thức Ba Lan bị bắt giữ vì bị coi là các "nhân viên tình báo, sen đầm, địa chủ, những kẻ phá hoại, chủ nhà máy, luật sư, viên chức và thầy tu."

Chính phủ Đức Quốc xã đã thông báo việc phát hiện những ngôi mộ tập thể ở rừng Katyn năm 1943. Khi Chính phủ Ba Lan lưu vong tại Luân Đôn yêu cầu Chữ thập đỏ quốc tế điều tra, Stalin ngay lập tức chấm dứt quan hệ ngoại giao với chính phủ này. Liên Xô tuyên bố các nạn nhân đã bị phát xít Đức giết hại, và tiếp tục phủ nhận trách nhiệm với các vụ xử bắn cho tới năm 1990, khi tổng thống Gorbachev chính thức thừa nhận và lên án việc xử bắn tù binh của NKVD, cũng như sự từ chối sau đó của chính phủ Liên Xô. (xem tiếp…)

Tuần 18

Siêu tân tinh loại Ia SN 1994D (ở phía dưới bên trái) có độ sáng hơn cả thiên hà chứa nó, NGC 4526.

Siêu tân tinh hay sao siêu mới là một sự kiện thiên văn học biến đổi tức thời xảy ra trong giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa sao ở các sao khối lượng lớn, mà một vụ nổ khổng lồ cuối cùng đánh dấu sự hủy diệt của sao. Sự kiện bất thình lình này tạo ra một ngôi sao sáng "mới", trước khi dần phai mờ trong vòng vài tuần đến vài tháng. Siêu tân tinh là sự kiện mãnh liệt hơn sự kiện sao mới (nova). Trong tiếng Latinh, nova có nghĩa là "mới", mà trong thiên văn học đề cập đến sự xuất hiện tạm thời của một sao sáng mới. Tiền tố "super-siêu" phân biệt siêu tân tinh từ tân tinh thông thường, có độ sáng nhỏ hơn rất nhiều. Thuật ngữ supernova do Walter Baade và Fritz Zwicky đặt ra từ năm 1931. Chỉ có ba siêu tân tinh xảy ra trong Ngân Hà được quan sát bằng mắt thường trong 1000 năm qua, mặc dù rất nhiều sự kiện ở các thiên hà khác nhau đã được quan sát bằng kính thiên văn. Lần quan sát trực tiếp siêu tân tinh thuộc Ngân Hà gần đây nhất đó là siêu tân tinh Kepler xảy ra năm 1604, tuy có thêm hai tàn tích siêu tân tinh xảy ra gần đây cũng được phát hiện. Dựa trên thống kê số lượng siêu tân tinh quan sát ở các thiên hà khác cho ước tính, trung bình, trong Ngân Hà có khoảng 3 sự kiện xảy ra ở mỗi thế kỷ và gần như sẽ quan sát được siêu tân tinh bằng các kính thiên văn hiện đại nếu chúng xảy ra trong Ngân Hà. (xem tiếp…)

Tuần 19

Người có hai hồi hải mã nằm ở hai bên bán cầu não. Hồi hải mã nằm ở thùy thái dương trong của não. Ở vị trí quan sát từ phía ngoài não, thùy trán ở bên trái, thùy chẩm ở bên phải và thùy thái dương, thùy đỉnh được cắt bỏ phần lớn để quan sát được hồi hải mã nằm ẩn ở phía dưới.

Hồi hải mã là thành phần quan trọng có trong não người và các động vật có xương sống khác. Con người và động vật có vú có hai hồi hải mã nằm ở hai bên não. Hồi hải mã là một phần của hệ viền (hệ limbic), có vai trò quan trọng trong việc củng cố trí nhớ từ trí nhớ ngắn hạn đến trí nhớ dài hạn và trí nhớ không gian cho phép điều hướng. Hồi hải mã nằm dưới vỏ đại não trong vỏ não nguyên thủy, và ở bộ linh trưởng, hải mã nằm trong vùng trung gian thùy thái dương. Nó chứa hai phần lồng vào nhau: hải mã đích danh và hồi răng.

Khi mắc bệnh Alzheimer (và các dạng suy giảm trí nhớ khác), hải mã là một trong những vùng đầu tiên của não bị tổn thương, triệu chứng ban đầu là mất trí nhớ ngắn hạn và mất phương hướng. Tổn thương hải mã cũng có thể là do giảm oxy huyết, viêm não hoặc động kinh vùng trung gian thùy thái dương. Những người bị tổn thương hải mã rộng, ở hai bên có thể bị chứng quên về sau: không có khả năng hình thành và lưu giữ những ký ức mới.

Do các tế bào thần kinh khác nhau được sắp xếp gọn gàng tầng tầng lớp lớp trong vùng hải mã, nên các nhà khoa học đã tạo nên mô hình khoa học để nghiên cứu sinh lý học thần kinh. Tính mềm dẻo synapse được biết đến trong quá trình điện thế hoá dài hạn được phát hiện xảy ra ở hải mã và các nghiên cứu thường tập trung cấu trúc này. LTP được cho là một trong những cơ chế thần kinh chính mà theo đó các ký ức được lưu trữ trong não. (xem tiếp…)

Tuần 20

Quang cảnh Badajoz nhìn qua sông Guadiana từ chân đồi San Cristóbal, tranh vẽ bởi Eugène-Ferdinand Buttura.

Trận Gebora là một trận đánh trong Chiến tranh Bán đảo giữa Tây Ban NhaPháp. Trận đánh diễn ra vào ngày 19 tháng 2 năm 1811 ở phía tây bắc Badajoz thuộc Tây Ban Nha. Tại đây, một lực lượng Pháp có quân số ít hơn đã tiêu diệt gần như toàn bộ quân đội Tây Ban Nha vùng Extremadura.

Trong một nỗ lực nhằm giải vây cho lực lượng quân Pháp của Nguyên soái André Masséna khỏi tình thế bị sa lầy trước tuyến phòng thủ Torres Vedras của Liên minh chống Pháp tại Lisbon thuộc Bồ Đào Nha, Nguyên soái Jean-de-Dieu Soult đã dẫn một phần Đạo quân Midi (Đạo quân phương Nam) của Pháp từ Andalusia tiến vào vùng Extremadura lân cận thuộc Tây Ban Nha và vây hãm thị trấn pháo đài Badajoz. Tử tước Wellington và Tướng Tây Ban Nha Pedro Caro y Sureda, Hầu tước thứ ba của La Romana đã gửi một đội quân lớn của Tây Ban Nha đến để tấn công quân Pháp. Tuy nhiên, Tướng La Romana đột ngột qua đời trước khi đội quân này xuất phát, quyền chỉ huy chuyển sang Tướng Gabriel de Mendizábal Iraeta. Vào đầu tháng 2 năm 1811, được hỗ trợ bởi một lực lượng kỵ binh nhỏ của Bồ Đào Nha, quân Tây Ban Nha đã đến thị trấn và cắm trại trên đỉnh núi San Cristóbal gần đó.

Khi Mendizabal phớt lờ cảnh báo của Wellington và thất bại trong việc củng cố phòng thủ, Nguyên soái Soult đã lợi dụng tình thế dễ tổn thương của Tây Ban Nha để phái một lực lượng nhỏ tấn công quân Tây Ban Nha. Vào sáng ngày 19 tháng 2, quân Pháp dưới quyền Nguyên soái Édouard Mortier đã nhanh chóng đánh bại quân Tây Ban Nha, gây ra 1.000 thương vong và bắt 4.000 tù binh trong khi chỉ mất 400 người. Chiến thắng này cho phép Soult tiếp tục tập trung vào cuộc tấn công Badajoz của ông và sau cùng Badajoz rơi vào tay Pháp từ ngày 11 tháng 3 kéo dài cho đến năm sau. (xem tiếp…)

Tuần 21

Chân dung Edward Stratemeyer năm 1953, ông là người đã sáng tạo và xuất bản loạt truyện Nancy Drew.

Nancy Drew là một nhân vật hư cấu và là nhân vật chính trong loạt tác phẩm trinh thám ly kỳ Mỹ của nhà văn Edward Stratemeyer. Nhân vật được xem như phiên bản nữ của loạt truyện Hardy Boys. Nancy Drew ra mắt công chúng lần đầu tiên năm 1930 trong tác phẩm The Secret of the Old Clock. Các tập truyện do nhiều người cùng viết dưới một bút danh chung là Carolyn Keene. Trải qua nhiều thập niên, hình tượng nhân vật Nancy đã thay đổi để thích ứng với những khác biệt văn hóa và thị hiếu Hoa Kỳ trong các thời kỳ khác nhau. Từ năm 1959, nội dung các tập truyện được chỉnh lại và rút gọn lại, một phần để giảm chi phí in ấn và sự thành công vẫn trong vòng tranh cãi. Trong quá trình sửa đổi, nhân vật nữ anh hùng trong bản gốc đã được xây dựng lại thành một hình tượng bớt bướng bỉnh và ít bạo lực hơn. Vào thập niên 1980, loạt truyện mới The Nancy Drew Files ra đời với hình ảnh Nancy trưởng thành và chuyên nghiệp hơn, có cả những tình tiết lãng mạn kèm theo. Loạt truyện gốc Nancy Drew Mystery Stories ra mắt vào năm 1930 và kết thúc vào năm 2003. Từ năm 2004, Nancy trong loạt truyện Girl Detective đã lái xe hơi hybrid chạy điện hiện đại cũng như sử dụng điện thoại di động. Năm 2012, loạt Girl Detective kết thúc, được thay thế bằng Nancy Drew Diaries ra mắt vào năm 2013. Hình tượng nhân vật phát triển theo thời gian phù hợp với bối cảnh đương thời. Loạt truyện được phổ biến liên tục trên toàn thế giới: ít nhất 80 triệu bản sách đã được bán ra và được dịch sang hơn 45 thứ tiếng. Nancy Drew được chuyển thể trong sáu phim điện ảnh, bốn phim truyền hình và một số trò chơi điện tử phổ biến; hình ảnh nhân vật cũng xuất hiện trong một loạt các mặt hàng khác trên khắp thế giới. (xem tiếp…)

Tuần 22

Chân dung Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn.

Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn (sinh 1952) là một giám mục Công giáo người Việt, hiện là giám mục chính tòa của Giáo phận Bà Rịa và Chủ tịch Uỷ ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam nhiệm kỳ 2019 – 2022. Ông từng đảm nhận vai trò Chủ tịch Uỷ ban Phụng tự nhiệm kỳ 2016 – 2019 và giám mục phó Giáo phận Bà Rịa từ năm 2015 đến năm 2017. Khẩu hiệu Giám mục của ông là: "Vâng nghe Thánh Thần".

Giám mục Nguyễn Hồng Sơn sinh tại Đồng Nai, thuở thiếu thời theo học tại Tiểu chủng viện Sài Gòn và Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X Đà Lạt. Năm 1980, chủng sinh Emmanuel Sơn được truyền chức linh mục, trở thành linh mục thuộc Giáo phận Xuân Lộc. Linh mục Sơn đảm nhận nhiều trách vụ linh mục của giáo phận, trong đó có bảy năm từ 1994 đến 2001 là linh mục quản hạt Giáo hạt Bà Rịa. Trong vòng bốn năm sau đó, linh mục Sơn được cử đi du học tại Học viện Công giáo Paris.

Năm 2005, với quyết định chia tách Giáo phận Xuân Lộc để thành lập Giáo phận Bà Rịa, Nguyễn Hồng Sơn trở thành linh mục giáo phận mới Bà Rịa. Từ năm 2006, linh mục Sơn đảm nhận nhiều vai trò khác nhau trong giáo phận: giám đốc Tiểu chủng viện Thánh Tôma Bà Rịa, phụ trách thường huấn linh mục, giám đốc chủng sinh, tổng thư ký Hội đồng Linh mục Giáo phận Bà Rịa từ năm 2009. Năm 2011, linh mục Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn được Giám mục Tôma Nguyễn Văn Trâm bổ nhiệm làm linh mục Tổng đại diện Giáo phận Bà Rịa. (xem tiếp…)

Tuần 23

Cuộc công phá thành Caen, tranh vẽ từ tập thơ Chroniques của Jean Froissart.

Trận Caen là một trận đánh trong Chiến tranh Trăm Năm giữa AnhPháp diễn ra vào ngày 26 tháng 7 năm 1346 khi quân viễn chinh Anh dưới sự chỉ huy của Edward III tấn công thành Caen do quân Pháp nắm giữ. Với lực lượng áp đảo lên tới 12.000 đến 15.000 quân, một bộ phận quân Anh dưới quyền hai bá tước là Warwick và Northampton đã tấn công trước khi có chỉ thị. Caen thất thủ chỉ sau một cuộc giao tranh, dù trong thành vẫn còn 1.000 đến 1.500 binh lính đồn trú cùng một số lượng đông đảo cư dân có vũ trang do Đại nguyên soái Pháp Raoul II dẫn dắt. Trận chiến khép lại bằng thảm cảnh 5.000 binh sĩ và cư dân trong thành bị hành quyết bởi lực lượng chiếm đóng, vài quý tộc bị bắt giữ làm tù binh. Theo sau đó là một trận cướp phá quy mô lớn kéo dài liên tục trong năm ngày.

Cuộc tấn công là một phần trong chiến dịch chinh phạt Bắc Pháp của vua Edward III. Một tháng trước cuộc tấn công, người Pháp đã thất bại trong việc ngăn quân Anh đổ bộ lên Normandie. Họ cũng bị động hoàn toàn trước 15.000 binh lính Anh tại Gascogne. Hệ quả là quân Anh không gặp phải quá nhiều kháng cự để rồi dễ dàng tàn phá cả vùng Normandie trước khi tiến đánh Caen.

Năm ngày sau cuộc tấn công, người Anh đặt chân đến Seine. Đến ngày 12 tháng 8 thì họ chỉ còn cách Paris vỏn vẹn 20 dặm (32 km). Ngày 26 tháng 8, quân Anh tiến về phía bắc và hạ gục quân Pháp trong trận Crécy. Không lâu sau, họ tiếp tục giành chiến thắng trong cuộc vây hãm Calais – trận đánh mang ý nghĩa quyết định đến thành bại của toàn bộ chiến dịch. (xem tiếp…)

Tuần 24

Một dạng của Ketsuban.

Ketsuban, được biết đến với tên tiếng Anh là MissingNo., viết tắt của Missing Number, là một loài Pokémon không chính thức xuất hiện trong các video game Pokémon RedBlueYellow. Loài Pokémon này xuất hiện trong trò chơi là kết quả của việc lập trình một số sự kiện, đặc biệt trong việc xử lý các ngoại lệ (lỗi thực thi) xuất hiện trong phần mềm. Người chơi có thể bắt gặp Ketsuban thông qua một sự cố khi hệ thống trò chơi cố gắng truy vấn dữ liệu về các Pokémon không tồn tại. Shigeki Morimoto, một trong những lập trình viên tham gia vào dự án cho biết, ban đầu các video game Pokémon khi mới phát triển có đến 190 Pokémon, nhưng sau đó rút còn 151 loài chính thức trong phiên bản cuối cùng.

Ketsuban thường xuất hiện dưới dạng một khối đồ họa lộn xộn giống như ký tự "d" hoặc "L" bị đảo ngược và xuất hiện trong Pokédex (kho Pokémon) của người chơi với mã số 000. Khi gặp Ketsuban, người chơi sẽ thấy lỗi đồ họa bất thường và khiến số lượng vật phẩm thứ sáu của kho vật phẩm tăng lên thêm 128. Ketsuban được nhà phát hành Nintendo ghi nhận lần đầu tiên trong số phát hành tháng 5 năm 1999 của tạp chí Nintendo Power. Hãng không khuyến khích người chơi nỗ lực "bắt" Ketsuban, nhưng bất chấp cảnh báo chính thức, quy trình chiến đấu và bắt Ketsuban vẫn được in trên một số tạp chí nhằm hướng dẫn người chơi cách thức để đạt được mục đích này. Website chuyên đánh giá trò chơi điện tử IGN ghi nhận sự tồn tại của Ketsuban trong Pokémon RedBlue là một trong những lỗi kỹ thuật video game nổi tiếng nhất. Người hâm mộ của trò chơi đã cố gắng hợp thức hóa Ketsuban, biến nó trở thành một phần kinh điển trong trò chơi. Không những thế, các nhà xã hội học cũng bắt tay vào nghiên cứu tác động của Ketsuban đối với người chơi nói riêng và văn hóa chơi trò chơi đại chúng nói chung. (xem tiếp…)

Tuần 25

Cleopatra ở Berlin, một bức tượng bán thân La Mã miêu tả Cleopatra VII đội một vương miện hoàng gia, giữa thế kỷ thứ 1 TCN (có thể vào khoảng lúc bà tới thăm Rome trong năm 46–44 TCN), nó được phát hiện trong một biệt thự nằm dọc theo Via Appia; ngày nay nó nằm tại Altes Museum, Antikensammlung Berlin.

Cleopatra VII Philopatorngười cai trị thực sự cuối cùng của Nhà Ptolemaios thuộc Ai Cập, mặc dù trên danh nghĩa vị pharaon cuối cùng là người con trai Caesarion của bà. Là một thành viên của nhà Ptolemaios, bà là hậu duệ của vị vua sáng lập Ptolemaios I Soter, một vị tướng gốc Macedonia Hy Lạp và là người bạn của Alexandros Đại đế. Sau khi Cleopatra qua đời, Ai Cập đã trở thành một tỉnh của đế quốc La Mã, đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ Hy Lạp hóa mà đã kéo dài từ triều đại của Alexandros (336–323 TCN). Ngôn ngữ mẹ đẻ của bà là tiếng Hy Lạp Koine và bà cũng là nhà cai trị đầu tiên của nhà Ptolemaios học tiếng Ai Cập.

Đến ngày nay, Cleopatra là một hình tượng nổi tiếng trong văn hóa phương Tây. Danh tiếng của bà được truyền tải dưới hình thức nhiều câu chuyện được sân khấu hoá, là đề tài của những tác phẩm hội họa, sân khấu, kịchâm nhạc. Câu chuyện về bà được miêu tả trong nhiều tác phẩm như vở kịch Antony và Cleopatra của William Shakespeare; Caesar và Cleopatra của George Bernard Shaw; vở Opera Cléopâtre của Jules Massenet và bộ phim điện ảnh Cleopatra (1963). (xem tiếp…)

Tuần 26

GM Trần Văn Toản.png

Giuse Trần Văn Toản (sinh ngày 7 tháng 4 năm 1955) là một giám mục Công giáo người Việt. Ông hiện đảm nhận vai trò giám mục chính tòa Giáo phận Long Xuyên (từ năm 2019) và là người thứ tư đảm nhận cương vị này. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông hiện đảm trách vai trò Chủ tịch Ủy ban Giáo Dân thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam nhiệm kỳ 2019 – 2022 và Phó Chủ tịch Ủy ban Bác ái – Xã hội (Caritas Việt Nam).

Trần Văn Toản sinh năm 1955 tại Quảng Nam, có song thân là người gốc Thái Bình. Từ năm 1966, chủng sinh Toản tu học tại nhiều chủng viện cũng như cơ sở đào tạo giáo sĩ Công giáo cho đến năm 1988 thì được truyền chức phó tế. Bốn năm sau đó, phó tế Toản được thụ phong linh mục, là linh mục giáo phận Long Xuyên. Sau một thời gian ngắn thi hành tác vụ linh mục tại giáo phận, năm 1999, linh mục Toản được cử đi du học tại Philippines trong khoảng thời gian sáu năm và tốt nghiệp với văn bằng Tiến sĩ Giáo dục. Trở về Việt Nam, ông đảm nhận nhiều chức vụ khác nhau trong giáo phận, một trong số đó là chức Giám đốc Trung tâm Mục vụ Giáo phận Long Xuyên. (xem tiếp…)

Tuần 27

Bức tranh sơn dầu Chiếc bè của chiến thuyền Méduse của Théodore Géricault.

Chiếc bè của chiến thuyền Méduse là một bức tranh sơn dầu được họa sĩ lãng mạn người Pháp Théodore Géricault (1791–1824) thực hiện trong thời gian 1818–1819. Bức tranh được hoàn thành khi ông 27 tuổi và đã trở thành một biểu tượng cho chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Với kích thước 491 cm × 716 cm (193,3 in × 282,3 in), bức tranh mô tả một khoảnh khắc là hậu quả từ vụ đắm tàu frigate Méduse của hải quân Pháp sau khi bị mắc cạn vào ngày 2 tháng 7 năm 1816 tại bờ biển thuộc về Mauritanie ngày nay.

Trong khâu lựa chọn cảnh một thảm kịch làm chủ đề cho một tác phẩm lớn đầu tay, Géricault có ý muốn lựa chọn một sự cố nổi tiếng vì nó sẽ tạo ra sự quan tâm lớn của dư luận làm đòn bẩy cho sự nghiệp của mình. Sự kiện cuốn hút người họa sĩ trẻ và trước khi ông thực hiện bản vẽ cuối cùng, ông đã tiến hành nghiên cứu sâu rộng và thực hiện rất nhiều bản phác thảo. Ông đã phỏng vấn hai trong số người còn sống sót, và xây dựng một mô hình chi tiết về chiếc bè. Ông đã đến các nhà xác và bệnh viện, để có thể quan sát rõ màu sắc và kết cấu của thịt của người sắp chết và đã chết. Như ông dự đoán, bức tranh đã gây nên rất nhiều tranh cãi khi xuất hiện lần đầu tiên tại cuộc triển lãm tranh ở Paris năm 1819, nó đã thu hút nhiều lời khen ngợi nồng nhiệt cũng như số lượng lời lên án tương ứng. Tuy nhiên, bức họa đã đạt được tiếng vang trên trường quốc tế và ngày nay được xem như hạt giống của giai đoạn đầu phong trào lãng mạn trong hội họa Pháp. (xem tiếp…)

Tuần 28

Áp phích yêu cầu công khai video vụ va chạm tàu Senkaku năm 2010 tại biểu tình phản đối quần đảo Senkaku năm 2010 ở Nhật Bản

Vụ phát tán video Senkaku năm 2010 là một vụ phát tán các video ghi hình vụ va chạm tàu ​​Senkaku năm 2010 trên mạng chia sẻ YouTube do một sĩ quan trưởng của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản khu vực Kobe thực hiện.

Trước thời điểm phát tán, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản khu vực Ishigaki đã ghi hình diễn biến vụ va chạm tàu ​​Senkaku năm 2010 và sau đó đệ trình video dưới dạng CD-ROM đến Văn phòng Công tố khu vực Naha để tổng hợp bằng chứng tư pháp truy tố thuyền trưởng tàu cá người Trung Quốc. Chính phủ Nhật Bản bị công luận chỉ trích rằng đã tiến hành can thiệp chính trị vào tư pháp, các cơ quan công tố địa phương bị cáo buộc vi phạm pháp quyền Nhật Bản khi miễn truy tố thuyền trưởng người Trung Quốc do lo ngại sự leo thang căng thẳng trong quan hệ Nhật Bản–Trung Quốc. Trong thời gian chờ truy tố thuyền thưởng tàu cá Trung Quốc tại Nhật Bản, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Ishigaki đã giữ lại một video bản sao và lưu trữ trong một thư mục được chia sẻ trên máy chủ mạng nội bộ, vốn cho phép bất kỳ sĩ quan nào cũng có thể tự do tiếp cận và sao chép. (xem tiếp…)

Tuần 29

Từ trái qua phải: Kevin Feige, Chris Hemsworth, Tom Hiddleston, Chadwick Boseman và Mark Ruffalo tại sự kiện San Diego Comic-Con 2017.

Avengers: Cuộc chiến vô cực là một bộ phim điện ảnh đề tài siêu anh hùng của Mỹ năm 2018 dựa trên biệt đội siêu anh hùng Avengers của Marvel Comics. Phim do Marvel Studios sản xuất và Walt Disney Studios Motion Pictures chịu trách nhiệm phân phối, là phần phim tiếp theo của Biệt đội siêu anh hùng (2012) và Avengers: Đế chế Ultron (2015), đồng thời cũng là phim điện ảnh thứ 19 trong loạt phim điện ảnh thuộc Vũ trụ Điện ảnh Marvel (MCU). Tác phẩm do bộ đôi anh em Anthony và Joe Russo đạo diễn, với phần kịch bản được chắp bút bởi Christopher Markus và Stephen McFeely. Phim có sự tham gia của dàn diễn viên gồm Robert Downey Jr., Chris Hemsworth, Mark Ruffalo, Chris Evans, Scarlett Johansson, Benedict Cumberbatch, Don Cheadle, Tom Holland, Chadwick Boseman, Paul Bettany, Elizabeth Olsen, Anthony Mackie, Sebastian Stan, Danai Gurira, Letitia Wright, Dave Bautista, Zoe Saldana, Josh BrolinChris Pratt. Trong Avengers: Cuộc chiến vô cực, Biệt đội Avengers hợp tác với nhóm Vệ binh dải Ngân Hà để ngăn chặn Thanos khỏi việc thu thập đầy đủ 6 Viên đá Vô cực và hủy diệt một nửa số sinh vật trong vũ trụ.

Avengers: Cuộc chiến vô cực được công bố vào tháng 10 năm 2014 dưới tựa đề Avengers: Cuộc chiến vô cực – Phần 1. Tháng 4 năm 2015, anh em nhà Russo nhận lời ngồi vào ghế đạo diễn của phim; một tháng sau, bộ đôi Christopher Markus và Stephen McFeely ký hợp đồng mới dưới vai trò nhà biên kịch của phim, với phần cốt truyện lấy ý tưởng từ nguyên tác truyện tranh The Infinity Gauntlet của Jim Starlin xuất bản năm 1991 và Infinity của Jonathan Hickman xuất bản năm 2013. Năm 2016, Marvel rút ngắn tựa đề phim thành Avengers: Cuộc chiến vô cực. (xem tiếp…)

Tuần 30

Dàn diễn viên của Mulholland Drive từ trái sang phải: Naomi Watts, David Lynch, Laura Elena Harring cùng Justin Theroux tại LHP Cannes 2001.

Con đường ảo mộng là một bộ phim điện ảnh thuộc thể loại neo-noir giật gân, tâm lý của MỹPháp ra mắt năm 2001, do David Lynch làm đạo diễn kiêm biên kịch. Với sự tham gia diễn xuất của dàn diễn viên nổi tiếng như Naomi Watts, Laura Harring, Justin Theroux, Ann Miller, Mark Pellegrino cùng Robert Forster, bộ phim theo chân nữ diễn viên giàu khát vọng Betty Elms trên con đường chinh phục ánh hào quang tại Los Angeles. Tại đây, cô gặp và kết bạn với một cô gái bị mất trí nhớ sau vụ tai nạn ô tô.

Lúc đầu, ý tưởng của các nhà làm phim là thai nghén một loạt phim truyền hình nhiều phần, mở đầu bằng một tập phim thí điểm. Phần lớn bộ phim bắt đầu được lên lịch quay từ năm 1999. Lynch dự định sẽ để ngỏ một kết thúc mở cho các phần phim tiềm năng sau này. Tuy nhiên, sau khi biết được kế hoạch của ông, những người chịu trách nhiệm sản xuất đã nhất mực từ chối, gián tiếp dẫn đến việc Lynch bỏ hẳn dự án và quyết định chuyển hướng bộ phim lên màn ảnh. Kết cục, một tác phẩm nhiều tầng ý nghĩa, mang nửa truyền hình, nửa điện ảnh, cộng với chất riêng của vị đạo diễn này ra đời. Lynch không muốn giải thích những điểm khó hiểu trong câu chuyện mà muốn để chính người xem, giới chuyên môn cũng như các thành viên trong đoàn làm phim tự suy đoán lấy. Ông chỉ gợi ý cho khán giả bằng một câu tagline duy nhất, theo đó, bộ phim là "một câu chuyện tình yêu trong thành phố của những giấc mơ". (xem tiếp…)

Tuần 31

Ảnh chụp Thom Yorke, giọng ca chính của Radiohead.

OK Computer là album phòng thu thứ ba của ban nhạc rock người Anh Radiohead, do hai hãng đĩa con của EMIParlophoneCapitol Records phát hành vào năm 1997. Đây là album tự sản xuất đầu tiên của ban nhạc với sự hỗ trợ của Nigel Godrich. Radiohead thu âm album tại OxfordshireBath suốt năm 1996 tới đầu năm 1997, và hầu hết các ca khúc được hoàn thiện tại điền trang lịch sử nổi tiếng St Catherine. Với album này, ban nhạc đã chủ động tách xa khỏi việc lạm dụng guitar, trong khi phần ca từ tiếp tục theo hơi hướng từ album trước đó của họ, The Bends. Thứ ca từ trừu tượng, những âm thanh giàu tính giai điệu và những triết lý của nó chính là định hướng âm nhạc của Radiohead sau này với nhiều tính trải nghiệm hơn.

OK Computer nhận được nhiều đánh giá rất tích cực và được thính giả cũng như nhiều ý kiến chuyên môn coi là album xuất sắc của thập niên 1990. Album cũng được đề cử Giải Grammy cho Album của năm và giành giải Album nhạc alternative xuất sắc nhất năm 1998. Album tách biệt hoàn toàn với thể loại Britpop đang rất đình đám vào thời điểm đó để hướng tới phong cách sầu não và sôi động hơn của alternative rock thống trị suốt thập niên tiếp theo. Giới chuyên môn và người hâm mộ dành nhiều bình luận về những chủ đề ẩn sau ca từ và phần bìa đĩa của album, ca ngợi quan điểm của Radiohead về chủ nghĩa tiêu dùng, sự tha hóa của xã hội, cảm giác bị cách li và những nỗi ám ảnh chính trị. Về những khía cạnh này, OK Computer thường được coi là tiên tri cho cuộc sống thế kỷ 21. (xem tiếp…)

Tuần 32

Đạo diễn của phim, ông Denis Villeneuve.

Tội phạm nhân bản 2049 là một bộ phim điện ảnh đề tài khoa học viễn tưởng của Mỹ năm 2017 do Denis Villeneuve đạo diễn và Hampton Fancher cùng Michael Green đảm nhiệm phần kịch bản. Đây là phần tiếp theo của bộ phim Blade Runner (1982), với Ryan GoslingHarrison Ford đảm nhiệm hai vai chính và Ana de Armas, Sylvia Hoeks, Robin Wright, Mackenzie Davis, Carla Juri, Lennie James, Dave Bautista cùng Jared Leto tham gia vào các vai phụ. Cả Ford lẫn Edward James Olmos đều quay trở lại với vai diễn của mình từ phần phim đầu tiên. Ridley Scott vốn là đạo diễn ban đầu của tác phẩm, tuy nhiên sau này trong dự án ông lại làm việc dưới vai trò giám đốc sản xuất. Lấy bối cảnh ba mươi năm sau mốc thời gian trong nguyên tác Blade Runner, câu chuyện của Tội phạm nhân bản 2049 xoay quanh việc K, một người nhân bản thế hệ Nexus-9 và đồng thời cũng là một "blade runner", đã tình cờ phát hiện bí mật gây chấn động: một người nhân bản đời cũ từng có thai và đã qua đời khi sinh con. Để che giấu bí mật có thể dẫn đến chiến tranh giữa con người và người nhân bản, cấp trên buộc K phải tìm ra đứa trẻ và thủ tiêu tất cả các bằng chứng liên quan đến nó.

Ý tưởng cho phần phim tiếp nối của Blade Runner bắt đầu được nhen nhóm từ những năm 1990, tuy nhiên các vấn đề về bản quyền đã khiến cho việc phát triển ý tưởng bị đình trệ. Sau đó với mục tiêu tăng lợi nhuận cho hãng phim của mình, Andrew Kosove và Broderick Johnson đã đàm phán và sở hữu được bản quyền tác phẩm từ phía Bud Yorkin. Quá trình quay phim chính được thực hiện chủ yếu tại hai phim trường ở thành phố Budapest, Hungary trong khoảng thời gian hơn bốn tháng—từ tháng 7 tới tháng 11 năm 2016. Tội phạm nhân bản 2049 được hỗ trợ tài chính bởi liên danh Alcon Entertainment–Sony Pictures và chính sách miễn giảm thuế do chính phủ Hungary tài trợ. Hãng Warner Bros. đại diện cho Alcon phụ trách công tác phân phối tác phẩm tại thị trường Bắc Mỹ, còn Sony đảm nhiệm vai trò phân phối tại các thị trường quốc tế. (xem tiếp…)

Tuần 33

Một bức tượng đặt bên ngoài sân vận động Cardiff City mô tả đội trưởng câu lạc bộ Cardiff City, Fred Keenor đang giương cao chiếc Cúp FA.

Chung kết Cúp FA 1927 là một trận thi đấu bóng đá giữa hai câu lạc bộ Cardiff CityArsenal trong khuôn khổ Cúp FA do Hiệp hội bóng đá Anh tổ chức, diễn ra vào ngày 23 tháng 4 năm 1927 tại Sân vận động Empire (Sân vận động Wembley cũ). Trận đấu khép lại với chiến thắng tối thiểu 1–0 dành cho Cardiff City, qua đó giúp đội bóng đến từ xứ Wales này trở thành nhà vô địch đầu tiên bên ngoài nước Anh. Tính đến năm 2020, chức vô địch của Cadiff vẫn là lần duy nhất mà chiếc cúp (trước đây thường gọi là "Cúp Anh") được trao cho một câu lạc bộ có trụ sở bên ngoài nước này.

Hai đội cùng tham gia giải đấu ở lượt trận thứ thứ ba với tư cách là đại diện của Football League First Division và đều trải qua năm vòng để tiến vào chung kết. Tại lượt trận thứ năm, Cadiff hạ gục Bolton Wanderers để chính thức biến đội bóng này thành cựu vương. Cho đến vòng tứ kết, Arsenal và Cardiff là hai đội bóng duy nhất của First Division còn sót lại.

Vào ngày diễn ra trận chung kết, ban tổ chức đã bổ sung thêm một số đoàn tàu nhằm vận chuyển người hâm mộ của Cardiff đến sân theo dõi trận đấu. Số lượng cảnh sát được huy động tối đa nhằm ngăn chặn những người dùng vé giả vào sân. Trước khi trận đấu diễn ra, ban tổ chức đã tiến hành một buổi lễ long trọng có sự trình diễn của ca khúc "Abide with Me", bài hát sau này trở thành truyền thống trong các trận chung kết. Đây cũng là lần đầu tiên, một trận chung kết được truyền hình trực tiếp trên đài phát thanh của BBC. Có nhiều thông tin cho rằng chương trình phát sóng này là nguồn gốc của cụm từ "back to square one", mặc dù từ ngữ này xuất hiện trước khi trận đấu diễn ra. Hơn 91.206 người đã đến sân theo dõi trực tiếp trận đấu, bên cạnh đó là hơn 15.000 cổ động viên Cardiff có mặt tại Cathays Park, trung tâm hành chính thành phố để theo dõi đội bóng con cưng qua hệ thống phát thanh. (xem tiếp…)

Tuần 34

Một bối cảnh trong nhà từ bộ phim.

Người tiễn đưa là một bộ phim chính kịch được đạo diễn bởi Takita Yōjirō và có sự góp mặt của Motoki Masahiro, Hirosue Ryōko và Yamazaki Tsutomu. Được sơ lược dựa theo Coffinman, một cuổn hồi kí của Aoki Shinmon, bộ phim dõi theo một người đàn ông trẻ, người quay trở lại quê nhà sau khi trải qua một sự nghiệp nghệ sĩ chơi cello không thành công và tình cờ nhận được công việc của một nōkanshi—một người chuyên làm dịch vụ tẩm liệm và thực hiện các nghi thức trong một tang lễ theo truyền thống của Nhật Bản. Anh chịu định kiến bất lợi từ những người xung quanh, kể cả từ người vợ của mình, vì những điều cấm kỵ xã hội mạnh mẽ chống lại những người đối mặt với cái chết. Cuối cùng, anh giành được sự tôn trọng từ họ và hiểu được tầm quan trọng của các kết nối giữa các cá nhân thông qua vẻ đẹp và phẩm giá của công việc của mình. Bởi những định kiến ​​của người Nhật đối với những người thực hiện công việc tiếp xúc với người chết, các nhà phân phối chỉ miễn cưỡng cho ra mắt bộ phim—cho đến khi nó bất ngờ giành được một chiến thắng lớn tại Liên hoan phim thế giới Montreal vào tháng 8 năm 2008. Tháng tiếp theo, bộ phim được công chiếu tại Nhật Bản, nơi nó tiếp tục thắng Giải thưởng Viện hàn lâm cho Phim của năm và trở thành bộ phim trong nước có doanh thu cao nhất của năm. Thành công này đã đạt đỉnh trong năm 2009, khi nó trở thành bộ phim đầu tiên do Nhật Bản sản xuất thắng Giải Oscar cho Phim ngoại ngữ hay nhất. (xem tiếp…)

Tuần 35

Một bức tranh minh họa Pháp thời Trung Cổ về ba giai cấp trong xã hội: tăng lữ, hiệp sĩ và nông dân. Mối quan hệ giữa các giai cấp này nằm trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và chế độ trang viên.

Thời kỳ Trung Cổ là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây Rômathế kỷ 5, kéo dài tới thế kỷ 15, hòa vào thời Phục hưngThời đại khám phá. Thời Trung Cổ (Trung Đại) là thời đại thứ hai trong ba thời đại lịch sử theo cách phân kỳ truyền thống của lịch sử phương Tây, cùng với Cổ Đại và Hiện đại. Thời kỳ Trung Cổ tự nó chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳ Trung CổHậu kỳ Trung Cổ. Suy giảm dân số, sự đảo ngược đô thị hóa, xâm lược, và di dân, bắt đầu từ Hậu kỳ Cổ đại, tiếp diễn trong thời Sơ kỳ Trung Cổ. Trong thời Trung kỳ Trung Cổ, bắt đầu từ thế kỷ 11, dân số châu Âu tăng nhanh khi các tiến bộ kỹ thuật và thời tiết thuận lợi giúp sản xuất phát triển và theo đó là thương mại phát đạt. Chế độ trang viên và chế độ phong kiến xác lập nên cấu trúc kinh tế-chính trị của xã hội thời Trung kỳ Trung Cổ. Giáo hội Công giáo củng cố sức ảnh hưởng trong khi những cuộc thập tự chinh được kêu gọi để tái chiếm Đất Thánh từ tay người Hồi giáo. Các nhà quân chủ ở nhiều quốc gia củng cố nhà nước trung ương tập quyền, giảm bớt tình trạng cát cứ. Đời sống trí thức ghi nhận sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện và sự thành lập những trường đại học, trong khi nghệ thuật chứng kiến phong cách Gothic lên đến đỉnh cao. Thời Hậu kỳ Trung Cổ đánh dấu một loạt những khó khăn và tai họa bao gồm nạn đói, dịch hạch, và chiến tranh, gây suy giảm nghiêm trọng dân số Tây Âu; chỉ riêng Cái chết Đen đã hủy diệt một phần ba dân số châu Âu. (xem tiếp…)

Tuần 36

Tác phẩm khắc gỗ Rhinocerus của Albrecht Dürer

Rhinocerus (Tê giác) là tên tác phẩm khắc gỗ của họa sĩ, nghệ nhân khắc bản in người Đức Albrecht Dürer sáng tác năm 1515. Tác phẩm này là hình ảnh một con tê giác dựa trên các mô tả từ sách vở và bức phác họa của một họa sĩ vô danh về con tê giác Ấn Độ đã được đưa tới Lisboa vào đầu năm 1515. Đây là con tê giác đầu tiên được đưa tới châu Âu kể từ thời Đế chế La Mã vì vậy bản thân Dürer chưa bao giờ được nhìn thấy một con tê giác thực sự. Vào cuối năm 1515 vua Manuel I của Bồ Đào Nha đã gửi con vật cho Giáo hoàng Leo X như một món quà nhưng chiếc tàu chở nó đã bị đắm ngoài khơi Ý đầu năm 1516 và phải chờ đến năm 1579 con tê giác thứ hai mới được mang từ Ấn Độ về châu Âu. Mặc dù bức tranh có nhiều chi tiết giải phẫu không chính xác về loài tê giác, Rhinocerus vẫn trở nên rất nổi tiếng ở châu Âu và được sao chép lại nhiều lần qua ba thế kỷ sau đó với tư cách một minh họa chính xác về loài tê giác. Mãi đến cuối thế kỷ 18 khi con tê giác Clara được đưa đi trưng bày khắp châu Âu, Rhinocerus mới dần bị thay thế bởi các bức minh họa chân thực hơn. Người ta đã nhận xét về tác phẩm của Dürer như sau: "có lẽ không bức tranh động vật nào có được ảnh hưởng sâu sắc tới nghệ thuật như vậy". (xem tiếp…)

Tuần 37

Michael Jackson 1984.jpg

"We Are the World" là một ca khúc và đĩa đơn từ thiện do siêu nhóm nhạc USA for Africa thu âm năm 1985. Ca khúc do Michael JacksonLionel Richie sáng tác và được Quincy Jones cùng Michael Omartian sản xuất cho album We Are the World. Với doanh số bán trên 20 triệu bản, đây là một trong số gần 30 đĩa đơn mọi thời đại bán được trên 10 triệu bản trên toàn cầu. Sau dự án "Do They Know It's Christmas?" của siêu nhóm nhạc Band Aid ở Anh, nhạc sĩ và nhà hoạt động xã hội Harry Belafonte nảy ra ý tưởng làm một đĩa đơn từ thiện của Mỹ để hỗ trợ công tác giảm thiểu nạn đói ở châu Phi. Ông, cùng với nhà gây quỹ Ken Kragen, là những người đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ý tưởng này trở thành hiện thực. Hai người sau đó đã liên hệ với một số nhạc sĩ và cuối cùng giao cho Jackson và Richie sáng tác ca khúc này. Cặp đôi này viết xong ca khúc "We Are the World" chỉ bảy tuần sau khi "Do They Know Its Christmas" được phát hành, và ngay ngày hôm sau (21 tháng 1 năm 1985), buổi thu âm đầu tiên của ca khúc được thực hiện. (Buổi cuối cùng là vào ngày 28 tháng 1 năm 1985). Sự kiện mang tính lịch sử này quy tụ một vài trong số những ca sĩ nổi tiếng nhất của nền công nghiệp âm nhạc thời bấy giờ. Ca khúc đã thu được thành công về thương mại trên toàn cầu, đứng đầu các bảng xếp hạng trên khắp thế giới và trở thành đĩa đơn pop của Mỹ bán nhanh nhất trong lịch sử. (xem tiếp…)