Bước tới nội dung

Xúc xắc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Xúc xắc hay còn gọi là xí ngầu là một khối nhỏ, có dạng một khối đa diện, thường được làm bằng nhựa hoặc gỗ (đôi khi là kim loại hoặc vật liệu khác) được đánh dấu chấm tròn hoặc ghi số với số lượng nhất định cho các mặt. Xúc xắc dùng như một hình thức tạo số ngẫu nhiên, được sử dụng trong nhiều trò chơi khác nhau.

Loại xúc xắc phổ biến nhất là xúc sắc 6 mặt hình lập phương, mỗi mặt có chứa một số lượng chấm tròn từ 1 đến 6. Khi tung lên cao (hoặc lăn trên mặt phẳng), xúc xắc sau đó va chạm với mặt phẳng hoặc các vật cản nếu có, rồi dừng lại. Số hiển thị ở mặt trên cùng được coi như là kết quả tung xúc xsắc.

Hai viên xúc xắc chuẩn 6 mặt.
Paschier Joostens, De Alea, 1642

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Xúc xắc đã được sử dụng từ thời tiền sử, nhưng nguồn gốc hiện tại chưa được chắc chắn. Những viên xúc xắc cổ đại nhất được ghi nhận có niên đại cách đây khoảng 12.000 năm tại Bắc Mỹ,[1] chủ yếu được làm từ gỗ và xương động vật.

Một viên xúc xắc 20 mặt làm bằng đá serpentin thời vương quốc Ptolemy.[2]

Ở thời Ai Cập cổ đại, những viên xúc xắc đã từng được ghi nhận cho việc sử dụng trong trò chơi Senet (khoảng năm 3000 TCN đến năm 2 SCN) dưới dạng những cây gậy, cho ra kết quả chỉ gồm 1 trong hai số.[3]

Một viên xúc xắc thời La Mã cổ đại.
Một số viên xúc xắc được tìm thấy ở nhiều nơi khác nhau thuộc châu Á.

Mặc dù cờ bạc vào thời La Mã cổ đại là bất hợp pháp, nhưng những người La Mã thời đó lại yêu thích một trò chơi liên quan tới xúc xắc có tên là Aleam ludere. Điều đáng nói là thời đó có 2 loại xúc sắc: Tali là những viên xúc xắc lớn có khắc một, ba, bốn và sáu chấm ở bốn mặt, còn Tesserae là những viên xúc xắc nhỏ hơn với các cạnh được đánh số từ một đến sáu.[4]

Nguồn gốc tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi xúc xắc dùng ở miền Bắc Việt Nam. Từ "xúc xắc" được cho là bắt nguồn từ từ "lúc lắc" mô phỏng hành động và âm thanh gieo xúc xắc khi chơi trò chơi này.

Ở miền Nam Việt Nam, tên gọi xí ngầu được dùng phổ biến hơn trong ngôn ngữ hàng ngày. Từ "xí ngầu" được bắt nguồn từ thành ngữ tiếng Triều Châu "xập xí xập ngầu" có nghĩa là "thập tứ thập ngũ" (mười bốn mười lăm) có nghĩa là không rõ ràng, không chắc chắn. Điều này mô phỏng tính ngẫu nhiên của trò chơi. Một số nguồn nhầm lẫn đây là cách phát âm Quảng Đông nhưng điều này không chính xác.

Cấu tạo

[sửa | sửa mã nguồn]

Các mặt xúc sắc

[sửa | sửa mã nguồn]

Một xúc xắc thông thường có dạng hình lập phương, chiều dài khoảng 16mm, với các mặt có giá trị từ 1 đến 6 được thể hiện bằng các chấm tròn (hoặc ghi số trực tiếp, dù ít phổ biến hơn). Do hai mặt đối diện của xúc sắc có tổng giá trị là 7, nên các mặt 1, 2 và 3 sẽ có chung một đỉnh. Tuy nhiên, thử tự đặt các mặt này có thể khác nhau (như hình dưới).

Hai kiểu xúc xắc và khai triển của chúng. Kiểu bên trái thường gặp ở xúc xắc phương Tây, trong khi kiểu bên phải thường gặp ở xúc xắc phương Đông.
Các mặt xúc sắc (hàng trên: xúc xắc phương Đông, hàng dưới: xúc xắc phương Tây).

Độ chính xác

[sửa | sửa mã nguồn]

Xét về độ chính xác, xúc xắc thường có hai loại: độ chính xác thấp và độ chính xác cao.

Hai xúc xắc phương Đông với độ chính xác thấp, thường có màu đục và các chấm làm lõm.

Xúc xắc có độ chính xác thấp thường được làm bằng nhựa, thông qua quá trình ép phun trên khuôn (với các chấm tròn hoặc số là một phần của khuôn).[5] Nó có thể được sơn trộn cho ra nhiều màu sắc hoặc hiệu ứng thị giác khác nhau. Sau đó, chúng được đưa vào lồng trộn để đánh bóng và tạo góc tròn. Những loại xúc xắc này thường được sản xuất cho các trò chơi cờ bàn.

Hai viên xúc xắc có độ chính xác cao, được dùng trong các sòng bạc.

Xúc xắc có độ chính xác cao thường được làm từ Cellulose axetat, được cắt từ các thanh dài, với độ dài các cạnh là 19,0500 ± 0,0051 mm. Chúng được sơn bằng một loại sơn đặc biệt có các tính chất gần giống vật liệu làm xúc xắc nhằm đảm bảo tính cân bằng[6]. Thông thường xúc xắc không làm vát hoặc tròn cạnh, trừ khi điều này vẫn đảm bảo tính nhất quán. Mỗi xúc sắc có khắc một số sêri và tên của sòng bạc nhằm tránh bị làm giả hoặc đánh tráo.

Xúc xắc bịp

[sửa | sửa mã nguồn]

Những viên xúc xắc đã qua chỉnh sửa (khoan lỗ, tăng trọng lượng mặt,...) nhằm giúp một mặt dễ hoặc khó ra hơn các mặt khác được gọi chung là xúc xắc bịp. Xúc xắc bịp thường dùng trong ảo thuật để tạo sự giải trí, tuy nhiên nó cũng có thể được sử dụng cho các sới bạc bịp (đặc biệt nếu trong xúc xắc có chứa một máy rung nhằm gian lận kết quả). Các sòng bạc lớn thường dùng xúc xắc trong suốt, cũng nhằm để dễ phát hiện xúc xắc bịp được đưa vào.


Biến thể

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài kiểu 6 mặt lập phương thường gặp, xúc xắc còn có thể có nhiều loại hình dạng khác nhau. Các xúc xắc biến thể này thường ghi số trên các mặt thay vì dùng chấm tròn, có phân biệt số 6 và 9 (nếu có) bằng dấu chấm hoặc gạch chân. Thông thường nếu có, tổng giá trị hai mặt đối diện nhau của xúc xắc sẽ bằng số mặt của nó cộng thêm 1.

Xúc sắc với dạng khối đa diện đều

[sửa | sửa mã nguồn]

Trừ xúc xắc 10 mặt, các xúc xắc còn lại đều là các khối Platon.

Số mặt Hình dạng Mô tả
4 Tứ diện đều Tetrahedron Mỗi mặt tam giác có 3 số, thông thường được viết ở các đỉnh của mỗi mặt. Các số ở chung đỉnh là giống nhau; khi tung, đỉnh nằm ở cao nhất được chọn làm kết quả. Cấu trúc của khối làm xúc sắc khó nảy và lăn.
6 Khối lập phương Cube Phiên bản xúc xắc thường gặp nhất.
8 Bát diện đều Octahedron Mỗi mặt là một tam giác, trong đó nó như được ghép bởi hai hình chóp tứ diện đều, với một hình chóp gồm các số chẵn, hình kia gồm các số lẻ.
10 Ngũ giác hình thang Pentagonal trapezohedron Mỗi mặt có hình tứ giác, được tạo bởi hai tam giác cân ghép vào nhau. Xúc xắc có dạng như hai hình nón ghép với nhau, với một hình nón toàn số chẵn còn hình nón kia toàn số lẻ. Thông thường mặt số 10 có thể thay bằng số 0, và thường có một viên xúc xắc tương tự, với mỗi mặt như trên nhưng thêm một số 0 phía sau (00, 10, 20,...)
12 Khối 12 mặt đều Dodecahedron Mỗi mặt của nó là một ngũ giác đều.
20 Khối 20 mặt đều Icosahedron Mỗi mặt của nó là một tam giác đều.

Xúc xắc với các kiểu khác

[sửa | sửa mã nguồn]
  • "Xúc xắc" 1 mặt: Thường gặp nhất là dải Mobius, chỉ cho ra 1 kết quả.
  • Xúc xắc 2 mặt: Thường được thiết kế như một dồng xu.
  • Xúc xắc lăng trụ: Các mặt tính điểm nằm trên phần lăng trụ, với hai đáy được ghép với hình chóp.
  • Xúc xắc hình gần cầu: Thường được tạo bởi một hình cầu với các mặt được cắt phẳng, nó thường sử dụng cho các loại xúc xắc có từ 25 mặt trở lên.

Ứng dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Xúc xắc thường dùng trong nhiều mục đích khác nhau:

  • Trong các trò chơi, nó thường xuất hiện trong cờ tỷ phú, cờ cá ngựa, rắn và thang, backgammon,... nhằm quyết định số bước di chuyển của quân cờ. Một số trò chơi khác, như Catan, sử dụng xúc xắc nhằm quyết định phần nào của trò chơi được kích hoạt,...
  • Trong cờ bạc, Craps là trò chơi phổ biến nhất tại các sòng bạc phương Tây, trong đó người chơi cố gắng tung 2 xúc xắc ra một tổng điểm nào đó trước số 7 (hoặc ngược lại). Trong khi đó phương Đông lại nổi tiếng với Tài xỉu, trò chơi dự đoán kết quả tung 3 xúc xắc.
  • Trong bói toán, chiêm tinh:
    • Có giả thuyết cho rằng những người thời Pythagoras đã dùng các khối Platon (với tên gọi "xúc xắc của các vị thần") nhằm tìm hiểu về vũ trụ thông qua hình dạng hình học của chúng.[7]
    • Một bộ ba xúc xắc 12 mặt đều có thể được dùng trong chiêm tinh học.
    • Một viên xúc xắc 20 mặt có thể dùng như quả bóng ma thuật 8-ball nhằm trả lời có hoặc không cho các câu hỏi.
  • Trong mật mã học, một bộ 5 xúc xắc có thể được dùng để tạo mật mã. Điều này được tổ chức EFF khuyến khích.[8]
  • Việc tung một hoặc nhiều xúc xắc thường được chọn làm ví dụ khi giảng dạy về lý thuyết xác suất, đặc biệt là về việc cho thấy cách xác suất được phân phối theo một trật tự nhất định.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Mol, Angus; Politopoulos, Aris; Crist, Walter (ngày 16 tháng 4 năm 2026). "Archaeologists have discovered 12,000-year-old dice – here's what they reveal about the history of play". The Conversation (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2026.
  2. "Twenty-sided die (icosahedron) with faces inscribed with Greek letters - Ptolemaic Period–Roman Period - The Metropolitan Museum of Art". The Metropolitan Museum of Art (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2026.
  3. Finkel, Irving (2008). "Board Games". Beyond Babylon: Art, Trade, and Diplomacy in the Second Millennium B.C. Metropolitan Museum of Art. tr. 151. ISBN 978-1-58839-295-4.
  4. Matz, David (2002). Daily Life of the Ancient Romans. Greenwood Publishing Group. tr. 94–95. ISBN 978-0-313-30326-5.
  5. "7 Surprising Facts About How Dice Are Made (With Pictures)". GMDICE (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2026.
  6. "Casino Dice". www.dice-play.com. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  7. Guthrie, Kenneth (1988). The Pythagorean sourcebook and library: an anthology of ancient writings which relate to Pythagoras and Pythagorean philosophy. Grand Rapids, MI: Phanes Press. ISBN 978-0-933999-50-3. OCLC 255212063.
  8. "EFF Dice-Generated Passphrases". Electronic Frontier Foundation (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2026.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]