Xung đột biên giới Eritrea–Ethiopia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Xung đột biên giới Eritrea–Ethiopia
Eritrean–Ethiopian War Map 1998.png
Territory claimed by both sides of the conflict
.
Thời gian ngày 6 tháng 5 năm 1998 – ngày 9 tháng 7 năm 2018
(20 năm, 2 tháng, 3 ngày)[1]
Địa điểm biên giới Eritrea-Ethiopia
Kết quả * Ongoing sporadic rebel clashes related to the Second Afar insurgency
Thay đổi lãnh thổ Badme được nhượng lại cho Eritrea
Tham chiến
 Eritrea  Ethiopia
Tổn thất
70.000[2]–80.000[3] bị giết (1998-2000)
.

Là một phần của xung đột tại Sừng Phi châu, Xung đột biên giới Eritrea–Ethiopia là những vụ bạo lực bế tắc giữa EritreaEthiopia. Xung đột biên giới Eritrea–Ethiopia gồm những vụ va chạm lác đác giữa lực lượng quân sự hai bên, một vài vụ đụng độ trong đó là một phần của cuộc Nổi dậy Afar lần thứ Hai có quy mô lớn hơn. Xung đột biên giới diễn ra kể từ Chiến tranh Eritrea–Ethiopia hồi những năm 1998–2000, and included multiple clashes with numerous casualties, such as the 2016 Tserona clashes. Năm 2018, Ethiopia cuối cùng cũng tuyên bố rằng nước này sẽ nhượng lại Badme cho Eritrea, kéo theo hệ quả kết thúc những xung đột dai dẳng suốt hai thập niên. Vào ngày 9 tháng 7 năm 2018, hai quốc gia chính thức kết thúc xung đột biên giới trên bàn Hội nghị thượng đỉnh Eritrea – Ethiopia 2018 thông qua việc ký thỏa thuận chung để tiếp nối quan hệ ngoại giao hòa bình.[4][5]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Eritrea giành được độc lập từ Ethiopia năm 1993, sau quá trình đấu tranh vũ trang lâu dài.[2] Trong giai đoạn 1998-2000, xung đột tiếp diễn giữa hai nước về chủ quyền lãnh thổ Badme, khiến khoảng 70.000[2] tới 80.000[3] người thiệt mạng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 1998 khi chiến tranh Eritrea–Ethiopia nổ ra, đụng độ rải rác dọc biên giới Ethiopia và Eritrea. Căng thẳng đào sâu hơn khi vào năm 2012, khi Ethiopia mở đợt tổng tấn công vào lãnh thổ do Eritrea kiểm soát. Ba trại quân sự bị tấn công, nhiều người bị bắt hoặc giết trong đợt này.[3] Vài tuần trước đợt tổng tấn công, Ethiopia cáo buộc Eritrea hỗ trợ các phiến quân Ethiopia, những người đã tiến hành một vụ bố ráp hồi tháng giêng năm 2012 ở phía bắc vùng Afar và giết chết năm du khách Tây phương.[3]

Tháng 6 năm 2016, Eritrea nhận trách nhiệm vụ tiêu diệt 200 lính và làm bị thương 300 quân của phía Ethiopia trong trận Tsorona.[2]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ethiopia, Eritrea officially end war”. Deutsche Welle. 9 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018. 
  2. ^ a ă â b Samuel Gebre (16 tháng 6 năm 2016). “Eritrea Says It Killed 200 Ethiopian Troops in Border Clash”. Bloomberg.com. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018. 
  3. ^ a ă â b “Ethiopia 'launches military attack inside Eritrea'. BBC. 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018. 
  4. ^ “Ethiopia, Eritrea officially end war”. Deutsche Welle. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018. 
  5. ^ “Ethiopia's Abiy and Eritrea's Afewerki declare end of war”. BBC. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018.