Yên Dũng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yên Dũng
Huyện
Địa lý
Diện tích 185,9
Dân số  
 Tổng cộng 135.075 người (2010) [1]
 Mật độ 726
Hành chính
Tỉnh Bắc Giang
Huyện lỵ Thị trấn Neo
 Chủ tịch UBND Trần Văn Dũng
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Viết Tuấn
 Bí thư Huyện ủy Nguyễn Viết Tuấn
Phân chia hành chính 2 thị trấn, 19
Website [1] yendung.bacgiang.gov.vn

Yên Dũng là một huyện của tỉnh Bắc Giang, Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm ở phía nam tỉnh Bắc Giang, Yên Dũng có núi Nham Biền chạy theo hướng Đông-Tây. Phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh với ranh giới là sông Cầu, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương với ranh giới là sông Lục Đầu, phía Bắc giáp huyện Lục Nam và phía Tây giáp thành phố Bắc Giang

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một vùng đất cổ có bề dày về lịch sử văn hoá và truyền thống khoa bảng. Yên Dũng tự hào là một vùng đất thiêng với huyền thoại 99 con chim phượng hoàng hốt cấu tạo nên dãy Nham Biền kỳ vĩ; có chốn tổ Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) (xã Trí Yên) của thiền phái Trúc lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập từ thế kỷ XIII, chùa được coi là trường Đại học phật giáo đầu tiên ở Việt Nam. Yên Dũng tự hào là nơi sinh ra hai cha con tiến sĩ Đào Toàn Mân và Trạng nguyên Đào Sư Tích (xã Song Khê), nơi ẩn chứa và phát tích tinh hoa của nhiều thế hệ; một vùng đất đã biết lấy câu trong sách thánh hiền để dạy con cháu: " Thiên kim di tử, bất như nhất kinh", nghĩa là để cho con ngàn vàng không bằng một quyển sách. Bởi vậy từ xưa Yên Dũng đã sinh ra và nuôi dưỡng hàng chục tiến sĩ làm nên niềm tự hào của một vùng quê hiếu học. Đến nay truyền thống ấy đã và đang được các thế hệ người Yên Dũng kế tiếp.

Diện tích, dân cư, giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Thị trấn Neo cách thành phố Bắc Giang 13 km.

Huyện có diện tích 185,9 km2 và dân số là 135.075 người (năm 2010). Huyện ly là thị trấn Neo cách thành phố Bắc Giang khoảng 15 km về hướng đông nam. Chảy xuyên qua huyện Yên Dũng là con sông Thương uốn lượn cung cấp phù sa cho các xã Tân Tiến, Xuân Phú, Tân Liễu, Tiến Dũng, Trí Yên, Lão Hộ. Tỉnh Bắc Giang nổi tiếng với ba con sông lớn chạy xuyên qua tỉnh là sông Lục Nam, sông Thương, và sông Cầu. Cả ba con sông này đều chảy qua huyện Yên Dũng và hội tụ tại Kiếp Bạc, Hải Dương.

Hiện nay huyện Yên Dũng đang triển khai đầu tư xây dựng khu đô thị Lạc Phú nằm trên địa bàn xã Nham Sơn.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Yên Dũng có 21 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 2 thị trấn và 19 xã:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết vào thời Trần, huyện có tên là Cổ Dũng – lỵ sở đóng tại làng Cổ Dũng nằm ở phía nam. Thời thuộc Minh, huyện bị chia đôi: phía nam Nham Biền, vẫn giữ tên Cổ Dũng, lỵ sở như cũ (nay là xóm Huyện, xã Tiến Dũng) còn phía bắc Nham Biền gọi là huyện Yên Ninh, lỵ sở đặt tại Nội Hoàng (nay là xóm Huyện, thôn Chiền). Năm 1419, huyện Yên Ninh bị gộp vào Phượng Sơn, Long Nhỡn để thành huyện mới Phượng Nhỡn.

Khi đất nước được giải phóng, dưới thời Lê, phần đất thuộc Yên Ninh cũ mới trở lại cùng huyện Cổ Dũng tạo ra huyện Yên Dũng, có 88 xã trại, lỵ sở đặt tại Như Thiết, sau đó chuyển tới Sen Hồ.

Huyện Yên Dũng vào thời Lê – Nguyễn thuộc phủ Lạng Giang trấn Kinh Bắc, giáp giới với Yên Thế, Yên Việt, Bảo Lộc, Phượng Nhỡn, Quế Dương. Cuối thế kỷ 19, Yên Dũng có 11 tổng (Ngọc Cục, Tự Lạn, Thiết Sơn, Dĩnh Sơn, Mật Ninh, Hoàng Mai, Mỹ Cầu, Phúc Tằng, Tư Mai, Cổ Dũng) với 80 xã phường.

Dưới thời Pháp thuộc, sau khi lập tỉnh Bắc Giang (10-1895) Yên Dũng có các thay đổi sau:

– Tổng Ngọc Cục chuyển sang huyện Yên Thế. Năm tổng Đa Mai, Thiết Sơn, Mật Ninh, Dĩnh Sơn, Tự Lạn chuyển sang huyện Việt Yên. Tổng Phúc Tằng chia làm hai tổng Phúc Long và Phấn Sơn.

– Tổng Quang Biểu, Hương Tảo từ Việt Yên chuyển sang huyện Yên Dũng.

Các đơn vị hành chính trên tồn tại được khoảng 20 năm (1895-1914). Tiếp đó lại thay đổi như dưới đây:

– Các xã Phúc Tằng, Điêu Liễn, Phúc Long, Thượng Phúc, Hùng Lãm chuyển sang tổng Hoàng Mai. Phường Á Lữ đưa sang tổng Thọ Xương huyện Phất Lộc. Xã Chuế Dương về tổng Quế Nham huyện Yên Thế. Xã Mỏ Thổ nhập vào tổng Thiết Sơn. Phường Tam Kỳ sang tổng Trí Yên, huyện Phượng Nhỡn.

– Lỵ sở của Yên Dũng vẫn đóng ở Sen Hồ.

Đến năm 1924, huyện Yên Dũng lại bị xáo trộn lớn:

– Tổng Mỹ Cầu cùng Đa Mai nhập vào phủ Lạng Giang. Ba tổng Phúc Long, Hoàng Mai, Quang Biểu chuyển về Việt Yên.

– Bốn tổng Phấn Sơn, Tư Mai, Cổ Dũng, Hương Tảo ở lại huyện Yên Dũng với 32 xã, huyện lỵ chuyển về phố Chợ Neo thuộc tổng Tư Mai.

Cách mạng tháng 8-1945 thành công, các tổng của Yên Dũng đổi thành liên xã hoặc xã mang tên mới. Trong khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra ác liệt, Tỉnh ủy Bắc Giang xét thấy sự cần thiết trong việc chỉ đạo thống nhất giữa khu du kích nam Lạng Giang với căn cứ du kích Yên Dũng, được Liên khu ủy Việt Bắc chấp thuận, ngày 6-9-1952 đã ra Quyết nghị số 06/NQBB/BG sáp nhập 5 xã thuộc nam Lạng Giang (Tân Dân, Trí Yên, Thái Sơn, Dĩnh Kế, Lan Mẫu) và 2 xã thuộc nam Lục Ngạn (Bắc Lũng, Yên Sơn) vào huyện Yên Dũng. Cùng thời gian đó, 2 xã Chí Minh, Tân Mỹ trở lại huyện nhà, đưa huyện Yên Dũng từ 9 xã ở tả ngạn sông Thương lên tới 16 xã ở cả hữu ngạn. Đến tháng 6-1956, 16 xã kể trên chia thành 25 xã như sau:

– 8 xã không đổi tên, không chia tách: Lan Mẫu, Yên Sơn, Bắc Lũng, Quang Trung, Yên Lư, Thái Sơn, Tân Mỹ, Chí Minh.

– 8 xã chia thành 17 xã, đổi tên: Phấn Dũng (Đồng Sơn, Tân Liễu), Mỹ Nội (Nội Hoàng, Tiền Phong), Đồng Tiến (Dũng Tiến, Đại Đồng), Đức Giang (Tiến Dũng, Đức Sơn), Đồng Việt (Đồng Việt, Việt Tiến), Trí Yên (Trí Yên, Hồng Phong), Tân Dân (An Đào Tràng, Tam Sơn, Xuân Phú), Dĩnh Kế (Hùng Tiến, Tân Tiến).

Ngày 21-1-1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 24-TTg trả lại 2 xã Yên Sơn, Bắc Lũng cho huyện Lục Nam mới thành lập. Ngày 17-5-1958, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 172 chia Lan Mẫu thành 3 xã (Lan Mẫu, Đại Lâm, Lão Hộ), xã Hùng Tiến thành 2 xã (Dĩnh Kế, Dĩnh Trì), xã Quang Trung thành 2 xã (Quang Trung, Nham Sơn) và xã Thái Sơn thành 2 xã (Thái Sơn, Thái Đào) nâng Yên Dũng lên 28 xã. Ngày 27-2-1961, Thủ tướng Chính phủ lại ra Quyết định số 33/CP chuyển các xã Dĩnh Kế, Dĩnh Trì, Thái Đào, Đại Lâm về huyện Lạng Giang quản lý và chuyển xã Lan Mẫu về huyện Lục Nam quản lý. Từ đó, huyện Yên Dũng có 23 xã: Cảnh Thụy, Đồng Phúc, Đồng Sơn, Đồng Việt, Đức Giang, Hương Gián, Lãng Sơn, Lão Hộ, Nham Sơn, Nội Hoàng, Quỳnh Sơn, Song Khê, Tân An, Tân Liễu, Tân Mỹ, Tân Tiến, Thắng Cương, Tiến Dũng, Tiền Phong, Trí Yên, Tư Mại, Xuân Phú, Yên Lư.

Ngày 29-8-1994, thành lập thị trấn Neo - thị trấn huyện lị huyện Yên Dũng - trên cơ sở 3 thôn Tân An của xã Cảnh Thụy, thôn Phấn Lôi của xã Nham Sơn và thôn Bến Đám của xã Tân Liễu.

Ngày 12-7-2007, thành lập thị trấn Tân Dân trên cơ sở điều chỉnh 494,34 ha diện tích tự nhiên và 5.448 nhân khẩu của xã Tân An.

Từ năm 2010, 4 xã: Đồng Sơn, Song Khê, Tân Mỹ, Tân Tiến được sáp nhập vào thành phố Bắc Giang.

Dự kiến năm 2020, thị trấn Tân Dân và 4 xã: Hương Gián, Nội Hoàng, Tân Liễu, Tiền Phong sẽ được sáp nhập vào thành phố Bắc Giang.

Giáo dục - Đào Tạo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Các trường Trung học Phổ thông trong huyện
  1. THPT Yên Dũng 1 (xã Nham Sơn)
  2. THPT Yên Dũng 2 (Xã Tân An)
  3. THPT Yên Dũng 3 (Xã Cảnh Thụy)
  4. Trung tâm giáo dục thường xuyên (xã Nham Sơn)
  5. THPT Dân Lập Quang Trung (xã Cảnh Thụy)
  6. THPT Tư thục Thái Sơn (xã Quỳnh Sơn)
  7. THPT Dân lập Yên Dũng (xã Tiền Phong)

Kinh tế, xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.13.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Danh sách xã, thị trấn thuộc huyện Yên Dũng