Yên Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Yên Phong

Huyện
Map of Bac Ninh.jpg
Huyện Yên Phong màu vàng, phía trên bên trái
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Hồng
TỉnhBắc Ninh
Huyện lỵThị trấn Chờ
Phân chia hành chính1 thị trấn, 13 xã
Địa lý
Tọa độ: 21°12′40″B 105°59′36″Đ / 21,21111°B 105,99333°Đ / 21.21111; 105.99333Tọa độ: 21°12′40″B 105°59′36″Đ / 21,21111°B 105,99333°Đ / 21.21111; 105.99333
Diện tích96,93 km²
Dân số (1/4/2019)
Tổng cộng191.064 người
Mật độ1.971 người/km²
Dân tộcKinh...
Khác
Biển số xe99D1
Websitehttp://yenphong.bacninh.gov.vn/

Yên Phong là một huyện ở phía tây tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Yên Phong nằm ở phía tây tỉnh Bắc Ninh, có vị trí địa lý:

Huyện Yên Phong có diện tích tự nhiên là 96,93 km², dân số là 171.592 người, chiếm 14,08% dân số toàn tỉnh, (trong đó nam: 79.786 người và nữ: 91.806 người) người (năm 2017).

Theo thống kê năm 2019, huyện Yên Phong có diện tích 96,93 km², dân số là 191.064 người, mật độ dân số đạt 1.971 người/km².[1]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Yên Phong có 14 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Chờ (huyện lỵ) và 13 xã: Dũng Liệt, Đông Phong, Đông Thọ, Đông Tiến, Hòa Tiến, Long Châu, Tam Đa, Tam Giang, Thụy Hòa, Trung Nghĩa, Văn Môn, Yên Phụ, Yên Trung.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1076, Nhà Lý cho xây dựng đại bản doanh và doanh trại tại xã Yên Phụphòng tuyến sông Như Nguyệt ở bờ Nam sông Như Nguyệt, tức sông Cầu ngày nay, trên địa bàn các xã Tam Giang, Đông Tiến, Yên Trung, Dũng Liệt, Tam Đa, Vạn An, Hòa Long. Nay vẫn còn nhiều di tích của phòng tuyến này được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia.

Năm 1077, quân Tống sang xâm lược Đại Việt bị chặn đứng và sau đó bị đánh bại tại đây.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các đơn vị hành chính trực thuộc huyện có hai cấp: Cấp tổng và cấp xã. Đây là các đơn vị hành chính huyện Yên Phong thời kì Gia Long (1802-1818) gồm 6 tổng, 71 xã, thôn, phường, trang, vạn, sở.

Từ tháng 8 năm 1945, dưới chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa, tiếp đó từ 1976, dưới chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đơn vị hành chính trung gian là cấp tổng đã được bãi bỏ, dưới thôn không còn là trang, vạn, sở.

Năm 1947, các xã Phấn Động, Đại Lâm, Thọ Đức hợp nhất thành xã Tam Đa. Tháng 3 năm 1947 hợp nhất 2 xã Phù Lương và Mộ Thượng thành xã Dũng Liệt.

Năm 1948, hợp nhất với xã Yên Diên và xã Hợp Tiến thành xã Hòa Bình.

Tháng 6 năm 1948, hợp nhất 2 xã Ngũ Phúc và Hiệp Hòa thành xã Phúc Hòa.

Tháng 8 tháng 1948, xã Đông Phong được thành lập trên cơ sở hợp nhất 2 xã Đông Yên và Phong Xá thành xã Đông Phong và hợp nhất 2 xã Đại Mẫn và Long Xá thành xã Long Châu.

Tháng 9 năm 1948, hợp nhất 3 xã Đông Lân, Đông Thái, Đông Xuyên thành xã Đông Tiến; hợp nhất 3 xã Thiểm Xuyên, Lạc Bằng, Đông Sơn thành xã Thụy Hoà; xã Tam Giang chính thức được thành lập; xã Trung Nghĩa chính thức được thành lập trên cơ sở hợp nhất của hai xã Đông Từ và xã Ngô Nội.

Năm 1949, Văn Môn hợp nhất với Đông Thọ thành lập xã Đông Môn.

Năm 1954, 2 xã Văn Môn và Đông Thọ được tách ra thành đơn vị hành chính độc lập, Đông Thọ trở về với tên cũ và Văn Môn trở về với tên gọi cũ.

Sau năm 1954, huyện Yên Phong có 18 xã: Đông Phong, Đông Tiến, Dũng Liệt, Hàm Sơn, Hòa Long, Hòa Tiến, Khúc Xuyên, Long Châu, Phong Khê, Phú Lâm, Tam Đa, Tam Giang, Thụy Hòa, Trung Nghĩa, Tương Giang, Vạn An, Yên Phụ, Yên Trung.

Tháng 10 năm 1956, xã Hoà Tiến được thành lập tách ra từ xã Yên Phụ lấy tên là xã Hòa Tiến.

Năm 1963, một số hộ dân ở huyện Lý Nhân (Hà Nam) lên khai hoang lập ấp ở địa phương lập ra thôn Đức Lý. Năm 1964, thôn Đức Lý thuộc xã Tam Đa. Năm 1963, chuyển 2 xã Phú Lâm, Tương Giang về huyện Tiên Sơn quản lý (nay xã Phú Lâm thuộc Tiên Du và Tương Giang thuộc Từ Sơn); cùng năm này 2 xã Văn Môn và Đông Thọ chuyển trở lại từ huyện Từ Sơn (nay là thị xã Từ Sơn) về huyện Yên Phong quản lý.

Năm 1971, đổi tên Hòa Bình thành xã Yên Phụ; xã Phúc Hòa đổi tên thành xã Yên Trung.

Ngày 9 tháng 1 năm 1998, Nghị định 89 của Thủ tướng Chính phủ thành lập thị trấn Chờ - thị trấn huyện lỵ Yên Phong, trên cơ sở toàn bộ xã Hàm Sơn.

Ngày 9 tháng 4 năm 2007, các xã Hòa Long, Vạn An, Khúc Xuyên, Phong Khê của huyện Yên Phong sáp nhập vào thành phố Bắc Ninh[2]. Huyện Yên Phong còn lại 1 thị trấn Chờ và 13 xã: Đông Phong, Đông Thọ, Đông Tiến, Dũng Liệt, Hòa Tiến, Long Châu, Tam Đa, Tam Giang, Thụy Hòa, Trung Nghĩa, Văn Môn, Yên Phụ, Yên Trung, giữ ổn định cho đến nay.

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay Yên Phong đang phát triển kinh tế với nhiều khu công nghiệp. Thực trạng phát triển các khu công nghiệp như vậy ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của nông dân. Vì họ khó mà có thể bắt nhịp được với tiến trình CNH, ĐTH. Trên địa bàn huyện Yên Phong đã và đang hình thành một số khu đô thị mới như: khu đô thị Yên Phong, khu đô thị thị trấn Chờ,...

Các trường THPT[sửa | sửa mã nguồn]

Trên địa bàn huyện có một số trường cấp 3 như:

  • Trường THPT Yên Phong số 1
  • Trường THPT Yên Phong số 2
  • Trường THPT Dân Lập Nguyễn Trãi
  • Trung tâm GDTX.

Văn hóa - du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một huyện nằm ven sông Cầu với nhiều làng quan họ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới phi vật thể.

Yên Phong cùng với Việt Yên (Bắc Giang) là 2 huyện có nhiều làng quan họ nhất ở vùng văn hóa Kinh Bắc. Hiện nay, vùng Kinh Bắc có 67 làng quan họ (Bắc Ninh 44 làng, Bắc Giang 23 làng) thì Yên Phong có tới 16 làng quan họ cổ (Việt Yên có 19 làng, thị xã Từ Sơn có 3 làng, Tiên Du có 11 làng, thành phố Bắc Ninh có 14 làng, Yên Dũng có 2 làng, Hiệp Hòa có 2 làng).

Ngày 18.01.1980, Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Nông Quốc Chấn ký quyết định số 28 – VH/QĐ công nhận 8 địa điểm thuộc phòng tuyến sông Như Nguyệt trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1077) thuộc huyện Yên Phong (tỉnh Bắc Ninh) nằm trong danh sách các di tích lịch sử quốc gia. Bao gồm: núi Đồn (cánh đồng Dinh, xã Yên Phụ); đền Núi (xã Yên Phụ), điếm Trung QuânCầu Gạo; bến sông Như Nguyệtchùa Bồ Vàng; đền Xà – Ngã ba Xà; đền Vọng Nguyệt (xã Tam Giang); đền Miễu Thọ Đức (xã Tam Đa). Hơn 30 năm kể từ khi quyết định trên có hiệu lực, nhưng tính từ cột mốc Lý Thường Kiệt xây dựng phòng tuyến chống 30 vạn giặc Tống xưa kia, đến nay phòng tuyến sông Như Nguyệt ấy đã ngót 1.000 năm sống trong sử sách, trong niềm tự hào bất diệt của nhiều thế hệ người Việt Nam.[3] Ở đây tác giả phải kể đến "Đại bản doanh" nơi Lý Thường Kiệt tập trung quân lương, binh sĩ là núi Đồn (cánh đồng Dinh, xã Yên Phụ); đền Núi (xã Yên Phụ), điếm Trung QuânCầu Gạo để làm nên chiến thắng lịch sử của phòng tuyến sông Như Nguyệt.

Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Phong có một số kiến trúc nghệ thuật cổ kính bao gồm:

  • Đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt
  • Cụm di tích lịch sử văn hóa đình - chùa Trác Bút
  • Cụm di tích lịch sử văn hóa đình - chùa Vọng Nguyệt
  • Núi Đồn (cánh đồng Dinh); đền Núi, điếm Trung Quân – Cầu Gạo (xã Yên Phụ)
  • Chùa Vinh Phúc Tự ở xã Quan Độ
  • Đền Đô (Đền Đại Tư Mã) ở Quan Độ - Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia.
  • Đền Nghiêm Kế ở Quan Độ - Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia.
  • Đình Lạc Nhuế ở xã Thụy Hòa
  • Đền Phấn Động
  • Chùa Phú Mẫn
  • Đình Phú Mẫn
  • Đình - Đền Đông Xá
  • Đền - Chùa Ngô Xá
  • Đình Đông Mai
  • Đình Trâm Khê
  • Đình Phù Lưu Ngô Nội
  • Chùa Ngô Nội
  • Đền Choá
  • Chùa Quang Phục
  • Đình Ngân Cầu
  • Đình Chính Trung
  • Chùa Thiệu Khánh Tự, chùa Chóa
  • Đền Đại Lâm
  • Chùa Thiên Phúc Tự ở Đại Lâm
  • Chùa Thiên Tích Tự ở Đại Lâm
  • Nghè Đại Lâm
  • Chùa Quảng Phúc - Đông Bích - Đông Thọ.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc lộ 18 đi qua huyện, còn được gọi là đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long, giao với quốc lộ 1 ở phường Võ Cường thuộc thành phố Bắc Ninh.

Làng nghề[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Phong và Từ Sơn là hai huyện có nhiều làng nghề ở Bắc Ninh. Có một số làng nghề ở Yên Phong là những làng nghề mới nổi trong ít năm gần đây:

- Làng nghề đúc nhôm Mẫn Xá

- Bánh tẻ làng Chờ

- Làng buôn tóc Đông Bích

- Bánh đa nem Yên Phụ

- Làng nghề mộc, phế liệu Trung Nghĩa

- Mộc, phế liệu Đông Thọ

- Nghề làm hương làng Chóa

- Đồ gỗ mỹ nghệ Ô Cách

- Làng nghề tơ tằm Vọng Nguyệt

- Bánh đa thôn Đoài

- Rượu làng Đại Lâm

- Mộc Tam Đa

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]