Thương (Nhật Bản)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Yari)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ba cây "su" yari được gắn trong koshirae

Yari (槍 - Thương?) là tên tiếng Nhật của loại thương thời cổ. Thương Nhật Bản là loại có lưỡi thẳng[1] và là vũ khí rất phổ biến trên chiến trường Nhật Bản thời trung đại. Các môn sử dụng thương được gọi là sōjutsu (槍術 - Thương Thuật?).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một bức Ukiyo-e mô tả một samurai đang cầm yari ở tay phải

Thương kiểu Nhật xuất hiện từ thời kì Nara (710 - 794),[2][3]. Chúng được gọi là mâu (矛, ほこ, hoko), và được cho là có nguồn gốc từ Trung Hoa. Các tư liệu văn bản đầu tiên mô tả về thương Nhật là vào năm 1334, và đến khoảng năm 1440 thì thương trở nên phổ biến[4]. Lý do của việc thương bị "bỏ rơi" một thời gian dài như vậy có lẽ là do trước thời kì đó, cách thức tiến hành chiến tranh ở Nhật Bản hơi "khác" so với các nước khác. Với các võ sĩ, chiến trường được coi là nơi tiến hành các trận chiến danh dự giữa võ sĩ và có vô số các nghi lễ để thể hiện sự tôn trọng đối thủ chứ không phải một trận hỗn chiến của "thường dân". Vì vậy, các vũ khí thực dụng và đơn giản như giáo không được ưa chuộng.[5]

Tuy nhiên, kể từ sau hai cuộc xâm lược của Mông cổ vào năm 1274 và năm 1281, chiến trận ở Nhật đã có những thay đổi rõ rệt. Quân Mông Cổ thuê lính người Trung Quốc và Triều Tiên mang theo những cây giáo dài và có tổ chức đội hình chặt chẽ, di chuyển theo từng đơn vị lớn để ngăn cản kị binh.[5] Và rõ ràng, có lẽ Nhật Bản đã bại trận nếu không có trận bão kamikaze đánh đắm thuyền Mông Cổ trong cuộc xâm lược thứ hai. Sau khi chứng kiến sự hiệu quả của chiến thuật trên, người Nhật đã có những thay đổi lớn về hệ thống vũ khí và quân đội.

Những vũ khí có cán dài (bao gồm cả naginata và thương) đã chứng tỏ được ưu thế vượt bậc của chúng trên chiến trường so với những thanh kiếm nhờ phạm vi tấn công lớn, tỉ lệ giữa trọng lượng và chiều dài nhỏ hơn và trên hết là khả năng đâm xuyên tuyệt vời của chúng.[5] Kiếm trở nên yếu thế và từ vị trí là vũ khí chủ lực dần lui về làm vũ khí phụ và chỉ còn được dùng khi thương không còn hiệu quả.

Khoảng cuối thế kỉ XVI, vào thời Chiến Quốc Nhật Bản, các cây thương có chiều dài 4,5-6 mét trở thành vũ khí chủ lực trong quân đội. Đội hình chiến đấu khi đó thường bao gồm binh sĩ đánh thương và bắn súng, dàn thành 2 - 3 hàng ngang và di chuyển theo khẩu lệnh của một chỉ huy. Thương trở nênDần dần, yari còn trở nên phổ biến hơn cả cung và rất được ưa chuộng bởi các võ sĩ và binh sĩ.[5]

Tuy nhiên sang thời kỳ Giang Hộ, nước Nhật không còn chiến tranh, các cũ khí thực chiến mất dần chỗ đứng, Thương vẫn được sản xuất dùng để phục vụ cho nghi lễ hay trang bị cho các lực lượng trị an.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Omi yari, bảo tàng Tokyo.

Thương Nhật có lưỡi rất dài và thẳng (từ vài chục cm cho tới 1m hoặc hơn).[1] Cũng như kiếm hay mũi tên của Nhật, thương được rèn thủ công từ loại thép tamahagane nên có độ bền và chất lượng rất cao.[1] Trong suốt các giai đoạn lịch sử, có rất nhiều biến thể của thương lưỡi thẳng được sản xuất, tuỳ theo mục đích sử dụng khác nhau mà chũng cũng có hình dạng rất khác nhau. Lưỡi thương có chuôi dài, thậm chí dài hơn lưỡi, gắn vào cán thông qua một lỗ rỗng, có ngạnh để gắn chặt lưỡi vào cán.[1] Cán thương không có một tiêu chuẩn chính xác nào về chiều dài, chiều rộng cũng như hình dạng. Chúng thường được làm bằng gỗ cứng và được bọc bên ngoài một lớp tre, mặt cắt ngang thường là hình bầu dục nhưng đôi khi cũng là dạng tròn hay thậm chí là đa giác. Thân cán thường được gia cố bằng các vòng kim loại và phần đốc được bọc thêm một lớp kim loại cứng. Cán thương cũng có thể được trang trí bằng cách khảm một số loại đá quý hay kim loại hoặc một số vật liệu khác như chân đồng, sơn mài hay vảy ngọc trai.

Khi không sử dụng, thương được tra vào một vỏ bao gỗ.[1]

Các biến thể của lưỡi thương Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

Thương lưỡi thẳng (su yari), nhìn chi tiết; lưỡi dài khoảng 1 shaku (khoảng 30cn)
Jumonji yari

Có rất nhiều loại thương Nhật được biết đến cho tới thời điểm hiện tại và điểm khác biệt lớn nhất giữa chúng là phần lưỡi. Trong đó, phổ biến hơn cả là loại thương lưỡi thẳng, dẹt và có hai cắt cạnh giống như dao găm[1] dùng để đâm và chém.

  • Sankaku yari (三角槍 - Tam giác thương?) là loại thương lưỡi hẹp, nhỏ, mặt cắt ngang hình tam giác, có phần mũi được mài sắc để phù hợp với việc đâm. Có khả năng xuyên tốt, có thể xuyên qua áo giáp kim loại.[1] Sankaku Yari lại được chia làm hai nhóm nhỏ hơn, sei sankaku yari - mặt cát ngang là hình tam giác đều, và hira sankaku yari - mặt cắt ngang cũng là hình tam giác cân.
  • Fukuro yari (袋槍 - Đại thương?) là loại lưỡi được gắn trực tiếp với cán bằng một khe cắm băng kim loại chứ không phải chuôi.
  • Kikuchi yari (菊池槍 - Cúc trì thương?) một trong những thiết kế hiếm gặp nhất, chỉ có một cạnh sắc, thích hợp cho việc chặt, chém. Chính vì những đặc điểm trên mà kikuchi yari trở thành loại thương duy nhất sử dụng habaki.
  • Yajiri Nari Yari (鏃形槍 - Thốc hình thương?) là loại thương có lưỡi rất rộng, có hai lỗ hình bán nguyệt trên lưỡi.
  • Jūmonji yari (十文字槍 - Thập văn tự thươngJūmonji yari?) có dạng lưỡi hình chữ thập, còn được gọi là magari yari (曲槍 - Khúc thương?). Ít có thương chữ thập nào có nhánh thẳng đuột hoàn toàn, mà chủ yếu là một nhánh thẳng ở trung tâm còn hai nhánh bên có dạng hơi cong, và chính điểm này khiến nó có dạng gần giông đinh ba hay chẽ đôi (partisan) của phương Tây. Trong một số văn bản hiện đại, đôi khi người ta còn gọi jūmonji yari là maga yari.
  • Kama yari (鎌槍 - Liêm thương?) là một biến thể được phát triển dựa trên lưỡi liềm và lưỡi hái của nông dân. So với lưới hái Tây phương, mà lưỡi của nó nhỏ và ít cong hơn nhiều.[1]
  • Kata Kama Yari (片鎌槍 - Phiến liêm thương ?) có cấu tạo gần giống kama yari nhưng chỉ có hai nhánh, trong đó một nhánh thẳng còn một nhánh hơi cong (cũng có thể là thẳng trong một số trường hợp) nằm gần như vuông góc với nhánh thẳng tạo thành hình chữ "L".
  • Tsuki Nari Yari (月形槍 - Nguyệt hình thương?). Cái tên nói lên tất cả, đây là loại thương có lưỡi hình mặt trăng lưỡi liềm nằm ngang và tác dụng của nó là để chém hay móc.
  • Kagi Yari (鉤槍 - Câu thương?) là loại thương có dạng giống móc câu cá, nhưng khá thẳng và dạng chữ "L" ngược. Kagi yari có thể dùng để tước vũ khí của đối phương hay thậm chí là kéo ngã kị binh.
  • Bishamon Yari (毘沙門槍 - Bì sa môn thương?) là thương có thiếu kế cầu kì và phức tạp nhất của, gồm một nhánh thẳng ở giữa và hai mảnh hình lưỡi liềm ở hai bên, ba phần được gắn với nhau thông qua hai điểm trên trục chính. Nghe mô tả thì có vẻ trừu tượng nhưng thực ra nếu đã từng xem qua mấy phim dã sử của tàu chắc cũng chẳng lạ gì loại thương này.
  • Hoko Yari Mâu thương là một loại thương cổ, xuất hiện và khoảng thời kì Nara (710 - 794)[6] có cán dài khoảng 6 ft (~ 180 cm) và lưỡi dài 6 inch (~ 20 cm) có dạng hình lá (cây) hoặc hình lượn sóng.[7] Mâu thương cũng sử dụng chân cắm giống như fukuro yari (đã đề cập ở trên).[8]
  • Sasaho yari, là loại thương có lưỡi rộng và giống hình lá tre.[9]

Các biến thể của cán thương[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, cán thương cũng có rất nhiều biến thể, chiều dài cán thường dao động trong khoảng từ 1-6m.

  • Nagae Yari (長柄槍 - Trường bính thương?) Loại giáo được sử dụng bởi ashigaru (lính bộ binh), dài từ 16,4 - 19,7 ft (~5 - 6m).[11][12]
  • Mochi Yari (餅槍 - Bính thương?) cũng là một loại trường thương nhưng ngắn hơn nagae yari, được sử dụng bởi cả ashigaru lẫn samurai.[13]
  • Kuda Yari (管槍 - Quản thương?), cán của kuda yari được lồng vào một ống kim loại rỗng, cho phép nó có thể xoáy trong khi đâm. Đây là phong các sojutsu điển hình ở trường Owari Kan Ryū.
  • Makura Yari (枕槍 - Chấm thương?). Makura có nghĩa là gối, makura yari là để chỉ loại thương đơn giản thường được để cạnh giường.[14]
  • Te Yari (手槍 - Thủ thương?) là loại yari có cán ngắn, được dùng bởi các cảnh sát võ sĩ đạo (samurai police - lực lượng trị an thời Edo) nhằm bắt giữ tội phạm.[15]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e Ratti, Oscar; Adele Westbrook (1991). Secrets of the Samurai: The Martial Arts of Feudal Japan. Tuttle Publishing. tr. 484. ISBN 978-0-8048-1684-7.  Đã bỏ qua tham số không rõ |coauthors= (trợ giúp)
  2. ^ Japan and China: Japan, its history, arts, and literature, Frank Brinkley, T. C. & E. C. Jack, 1903 p.156
  3. ^ The connoisseur's book of Japanese swords, Kōkan Nagayama, Kodansha International, p.49
  4. ^ Friday, Karl (2004). Samurai, Warfare and The State in Early Medieval Japan. Routledge. tr. 87. ISBN 0-415-32962-0. 
  5. ^ a ă â b Deal, William E (2007). Handbook to Life in Medieval and Early Modern Japan. Oxford University Press. tr. 432. ISBN 978-0-19-533126-4. 
  6. ^ The new generation of Japanese swordsmiths, Tamio Tsuchiko, Kenji Mishina, Kodansha International, 2002 p.15
  7. ^ The Encyclopedia Americana: a library of universal knowledge, Volume 15 Encyclopedia Americana Corp., 1919 p.745
  8. ^ The Japanese sword Kanzan Satō, Kodansha International, 1983 P.63
  9. ^ The connoisseur's book of Japanese swords, Kōkan Nagayama, Kodansha International, 1998 p.49
  10. ^ a ă The connoisseur's book of Japanese swords, Kōkan Nagayama, Kodansha International, 1998, P.49
  11. ^ Fighting techniques of the Oriental world, AD 1200-1860: equipment, combat skills, and tactics Fighting Techniques, Authors Michael E. Haskew, Christer Joregensen, Eric Niderost, Chris McNab, Publisher Macmillan, 2008, ISBN 0-312-38696-6, ISBN 978-0-312-38696-2 P.44
  12. ^ Ashigaru 1467-1649, Stephen Turnbull, Howard Gerrard, Osprey Publishing, 2001, P.19
  13. ^ Ashigaru 1467-1649, Authors Stephen Turnbull, Howard Gerrard, Illustrated by Howard Gerrard, Publisher Osprey Publishing, 2001, ISBN 1-84176-149-4, ISBN 978-1-84176-149-7 P.23
  14. ^ 'Samurai:The Weapons and Spirit of the Japanese Warrior', Author Clive Sinclaire, Publisher Globe Pequot, 2004, ISBN 1-59228-720-4, ISBN 978-1-59228-720-8P.119
  15. ^ Taiho-jutsu: law and order in the age of the samurai, Author, Don Cunningham, Publisher Tuttle Publishing, 2004, ISBN 0-8048-3536-5, ISBN 978-0-8048-3536-7 P.44

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]