Yohio

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Yohio
Yohio.jpg
Yohio (2013)
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Kevin Johio Lucas Rehn Eires
Nghệ danh Yohio
Sinh 12 tháng 7, 1995 (23 tuổi)
Sundsvall, Thụy Điển
Thể loại Rock, Pop
Nhạc cụ Guitar, piano, bass
Năm hoạt động 2010–nay
Hãng đĩa Ninetone Records (Thụy Điển)
Universal Music Japan (Nhật Bản)
Hợp tác với Seremedy

Kevin Johio Lucas Rehn Eires (sinh ngày 12 tháng 7 năm 1995), được biết đến qua nghệ danh Yohio (cách điệu ghi hoa thành YOHIO), là một ca sĩnhạc sĩ Thụy Điển. Anh được biết đến với màn trình diễn của mình với tên gọi Yohio, và thường mặc một chiếc váy lolita và có diện mạo ái nam ái nữ trên sân khấu.[1][2][3][4] Yohio từng là một cựu thành viên của ban nhạc rock Thụy Điển Seremedy bị giải tán vào tháng 4 năm 2013.[5][6][7] Yohio đã tham gia biểu diễn Melodifestivalen trong hai năm 20132014.

Gia đình và thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Yohio được sinh ra và lớn lên ở Sundsvall, Thụy Điển và là con trai của Tommy Rehn của ban nhạc heavy metal Corroded của Thụy Điển, với Johanna Eires.[1] Anh là cháu của Jan-Eric Rehn một tay guitar trong ban nhạc The Panthers những năm 1960[8] và cháu của Chris Rehn ban nhạc post-grunge/pop rock Takida của Thụy Điển. Chris và Tommy Rehn cũng đều trong ban nhạc Angtoria. Yohio nói được tiếng Nhật, sau khi trở nên hứng thú đến văn hóa Nhật Bảnvisual kei lúc còn trẻ, và cũng dành nhiều thời gian tại Nhật Bản vào bảy chuyến lưu diễn của anh ở đất nước này.[9]

Sự nghiệp ở Thụy Điển[sửa | sửa mã nguồn]

Yohio và ban nhạc Seremedy của anh đạt được một số công nhận ở Thụy Điển bắt đầu từ năm 2011 nhờ vẻ ngoài lấy cảm hứng từ Nhật Bản. Yohio nhận được sự chú ý đặc biệt vì hay mặc một chiếc váy khi biểu diễn.[10] Năm 2012 Yohio phát hành bài hát tiếng Anh đầu tiên của mình như một nghệ sĩ hát đơn là "Our Story".[11] Yohio đã thực hiện bốn MV gồm "Sky Limit", "Our Story", "Heartbreak Hotel" (bài hát dự thi tại Melodifestivalen 2013) và "Revolution".[12]

Năm 2013, có thông báo rằng Yohio đã cho mượn giọng nói của mình cho một ngân hàng bằng giọng nói Vocaloid trong phạm vi PowerFX bao gồm cả giọng hát tiếng Anh và tiếng Nhật.[13]

Melodifestivalen 2013[sửa | sửa mã nguồn]

Yohio là một trong những thí sinh trong mùa giải 2013 của Melodifestivalen, cuộc bầu chọn quốc gia Thụy Điển cho Eurovision Song Contest 2013 được tổ chức tại Malmö. Bài hát dự thi của Yohio là "Heartbreak Hotel",[14] mà anh đã viết cùng với Johan Fransson, Tobias Lundgren, Tim Larsson và Henrik Göranson.[14] Vào ngày 2 tháng 2, Yohio đủ điều kiện cho trận chung kết cuộc thi mà vào ngày 9 tháng 3 chỉ đứng hạng hai nhưng lại có được đa số phiếu của khán giả Thụy Điển bình chọn.[15][16] Ngoài ra anh còn là phát ngôn viên của Thụy Điển và người thông báo về kết quả bỏ phiếu tại vòng chung kết Eurovision 2013 ở Malmö.[17]

Melodifestivalen 2014[sửa | sửa mã nguồn]

Yohio đã tham gia vòng loại đầu tiên của Melodifestivalen 2014 tại Malmo Arena với bài hát "To the End", được biểu diễn đầu tiên. Yohio đã được công bố là có hành động đầu tiên để đi trực tiếp đến vòng chung kết tại Friends Arena vào ngày 8 tháng 3.[18] [18] Trong vòng chung kết, anh đứng ở vị trí thứ sáu.

Sự nghiệp tại Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2012, Yohio đã phát hành EP đầu tiên của mình mang tựa "Reach The Sky" tại Nhật Bản.[19] Album đầu tiên Break the Border được phát hành vào tháng 6 năm 2013, ba tháng sau khi phát hành Thụy Điển. Nó được đưa vào bảng xếp hạng Oricon một lần ở vị trí 285.[20]

Ngày 10 tháng 9 năm 2013, anh là người góp giọng cho Vocaloid của mình là YOHIOloid cho phần mềm Vocaloid 3 với 2 ngôn ngữ là tiếng Anhtiếng Nhật. YOHIOloid do PowerFX Systems AB sản xuất.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Album Vị trí đỉnh cao Chứng nhận
SWE
[21]
2013 Break the Border
  • Ngày phát hành:
    • 27 tháng 3 năm 2013 (Thụy Điển)
      24 tháng 4 năm 2013 (Nhật Bản)
  • Hãng thu âm: Ninetone/Universal
1 Vàng
Break the Border Platinum Edition
  • Ngày phát hành:
    • Tháng 6, 2013 (Thụy Điển)
  • Hãng thu âm: Ninetone/Universal
8
2014 Together We Stand Alone
  • Ngày phát hành:
    • 19 tháng 3 năm 2014 (Thụy Điển)
  • Hãng thu âm: Ninetone/Universal
1

EP[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Album Vị trí đỉnh cao Chứng nhận
JPN
2012 Reach the Sky / リーチ・ザ・スカイ
  • Ngày phát hành: 25 tháng 4 năm 2012
82

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí đỉnh cao Chứng nhận Album
SWE
[21]
2013 "Heartbreak Hotel" 8 Break the Border
2014 "To the End" 38 Together We Stand Alone

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Shohreh Zare/TT Spektra. “Yohio bakom klänningen - Kultur & Nöje” (bằng tiếng (tiếng Thụy Điển)). Gp.se. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  2. ^ “Yohio bakom klänningen” (bằng tiếng (tiếng Thụy Điển)). Svenska Dagbladet. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2013. 
  3. ^ “Svenska tonåringen YOHIO gör succé i Japan” (bằng tiếng (tiếng Thụy Điển)). MyNewsdesk. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2013. 
  4. ^ 'A guy wearing a dress is not a sexual thing': Yohio”. The Local. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2013. 
  5. ^ “Yohio is a Swedish Boy Singer that Looks like a Doll”. The Suite World. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  6. ^ Mikael Tjernström. “Seremedy-gitarrist släpper soloalbum - Kultur & Nöje” (bằng tiếng (tiếng Thụy Điển)). Dagbladet.se. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  7. ^ “Tweet by @Seremedy”. Twitter. Ngày 15 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2013. 
  8. ^ Anna-Karin Saad. “Hen har minglat med The Who - ST Grattar” (bằng tiếng (tiếng Thụy Điển)). St.nu. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  9. ^ Erik Gripenholm (ngày 28 tháng 8 năm 2012). "Det konstigaste är att jag är svensk". DN.SE. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  10. ^ Löf, Anders (ngày 4 tháng 4 năm 2011). "De kallar oss konstiga bögar". Aftonbladet. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2013. 
  11. ^ “Yohio - japansk popstjärna från Sundsvall”. Sveriges Radio. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2013. 
  12. ^ “Kolla in Japansuccén Yohios nya musikvideo! | Musikvideor | Musik | Nöjesbladet | Webbtv | Aftonbladet”. Aftonbladet.se. Ngày 29 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2014. 
  13. ^ “Twitter / YOHIO_Seremedy: I will become a new bilingual”. Twitter.com. Ngày 18 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2014. 
  14. ^ a ă “Yohio – Heartbreak Hotel”. SVT.se. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  15. ^ “YOHIO och David Lindgren är i final i Melodifestivalen”. SVT. Ngày 2 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2013. 
  16. ^ Emma Petersson (ngày 9 tháng 3 năm 2013). “Robin Stjernberg är vinnaren av Melodifestivalen 2013”. SVT. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013. 
  17. ^ Mirja Bokholm (ngày 22 tháng 4 năm 2013). “YOHIO presenterar de svenska rösterna i Eurovision Song Contest”. SVT.se. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2013. 
  18. ^ “n: De gick vidare”. Aftonbladet. Ngày 1 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2014. 
  19. ^ “Poplight | Främsta låtarna 2012: YOHIO - SKYLiMIT | Poplight”. Poplight.zitiz.se. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  20. ^ “「ブレイク・ザ・ボーダー」 YOHIO│オリコン芸能人事典-ORICON STYLE”. Oricon.co.jp. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2014. 
  21. ^ a ă Steffen Hung. “Discography Yohio”. swedishcharts.com. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2014.