Bước tới nội dung

Youri Tielemans

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Youri Tielemans
Tielemans trong màu áo Bỉ năm 2019
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Youri Marion A. Tielemans[1]
Ngày sinh 7 tháng 5, 1997 (27 tuổi)[2]
Nơi sinh Sint-Pieters-Leeuw, Bỉ
Chiều cao 1,76 m[3]
Vị trí Tiền vệ
Thông tin đội
Đội hiện nay
Aston Villa
Số áo 8
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
2002–2013 Anderlecht
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2013–2017 Anderlecht 139 (26)
2017–2019 Monaco 47 (5)
2019Leicester City (mượn) 13 (3)
2019–2023 Leicester City 138 (18)
2023– Aston Villa 32 (2)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2012–2013 U-15 Bỉ 4 (2)
2012–2013 U-16 Bỉ 10 (8)
2013–2016 U-21 Bỉ 14 (6)
2016– Bỉ 67 (7)
Thành tích huy chương
Bóng đá nam
Đại diện cho  Bỉ
FIFA World Cup
Vị trí thứ ba Nga 2018
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 23:38, 13 tháng 5 năm 2024 (UTC)
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 23:11, 26 tháng 3 năm 2024 (UTC)

Youri Marion A. Tielemans là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bỉ hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Aston Villa tại Premier LeagueĐội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Anderlecht[sửa | sửa mã nguồn]

Tielemans là sản phẩm của học viện cầu thủ trẻ của Anderlecht và ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên với câu lạc bộ ở tuổi 16.[4]

Vào ngày 21 tháng 7 năm 2013, anh lần đầu tiên được đưa vào đội hình chính với tư cách là cầu thủ dự bị không được sử dụng trong chiến thắng 1–0 trước Genk tại Siêu cúp bóng đá Bỉ 2013. Vào ngày 28 tháng 7 năm 2013, anh ra mắt đội một Anderlecht trong trận thua 2–3 trên sân nhà ở ngày thi đấu mở màn của Giải bóng đá vô địch quốc gia Bỉ gặp Lokeren khi thay thế Sacha Kljestan bị chấn thương sau 25 phút đầu.[5] Anh trở thành cầu thủ trẻ thứ tư ra mắt trong lịch sử giải đấu.[6]

Vào ngày 2 tháng 10 năm 2013, anh trở thành cầu thủ Bỉ trẻ nhất chơi ở UEFA Champions League khi đá chính trong trận đấu với Olympiakos khi mới 16 tuổi 148 ngày.[7] Anh đã chơi tổng cộng 29 trận, trong đó có 21 trận đá chính, và đặc biện trong trận chiến thắng 3–0 trước Club Brugge tại Sân vận động Constant Vanden Stock vào ngày 6 tháng 4 năm 2014. Trong trận đấu đó, anh đã ghi bàn mở tỷ số và cũng thực hiện một pha kiến tạo cho Cyriac để giúp Anderlecht vô địch Giải bóng đá vô địch quốc gia Bỉ 2013–14.[8] Tielemans đã giành giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của Bỉ trong hai mùa giải đầu tiên.[6]

Tielemans ghi 13 bàn trong 37 trận đấu ở Giải vô địch bóng đá quốc gia Bỉ khi Anderlecht vô địch Giải vô địch bóng đá quốc gia Bỉ 2016–17. Anh đã giành được Giải thưởng giày Ebony năm 2017 cho cầu thủ xuất sắc nhất gốc Phi và được vinh danh là Cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp Bỉ xuất sắc nhất 2016–17.[9] Anh ghi 5 bàn trong 15 trận đấu tại UEFA Europa League 2016–17, đưa câu lạc bộ lọt vào tứ kết và được chọn vào Đội hình của mùa giải.[10]

AS Monaco[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 24 tháng 5 năm 2017, Tielemans gia nhập nhà vô địch Ligue 1 2016–17, AS Monaco, theo bản hợp đồng có thời hạn 5 năm với mức phí khoảng 25 triệu euro.[11] Anh chơi trọn vẹn 90 phút và kiến tạo bàn mở tỷ số cho Djibril Sidibé trong trận ra mắt cho Monaco vào ngày 29 tháng 7 tại Trophée des Champions tại Grand Stade de Tanger trong trận thua 2–1 trước Paris Saint-Germain.[12] Vào ngày 4 tháng 8, Tielemans có trận ra mắt tại Ligue 1 trong chiến thắng 3–2 trên sân nhà trước Toulouse khi vào sân thay cho Radamel Falcao ở phút thứ 87. Anh chơi trọn 90 phút và ghi bàn thắng đầu tiên cho Monaco trong trận ra mắt tại các giải đấu thuộc UEFA vào ngày 13 tháng 9 trong trận đấu vòng bảng UEFA Champions League gặp RB Leipzig, khi gỡ hòa 1–1.[13] Vào ngày 16 tháng 9, Tielemans chơi trọn vẹn trong trận ra mắt tại Ligue 1 trong chiến thắng 3–0 trên sân nhà trước Strasbourg sau khi chơi tổng cộng 56 phút với tư cách là cầu thủ dự bị trong 4 trận đầu tiên ở Ligue 1.

France Football đã ghi tên Tielemans vào danh sách những thất bại lớn nhất nửa đầu mùa giải và cả mùa giải nói chung.[14][15] Anh ghi bàn thắng đầu tiên tại Ligue 1 trong ngày thi đấu thứ 31 vào ngày 2 tháng 9 năm 2018 trong trận thua 3–2 trên sân nhà trước Marseille.[16]

Leicester City[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 31 tháng 1 năm 2019, Tielemans gia nhập câu lạc bộ Leicester City tại Premier League theo dạng cho mượn đến cuối mùa giải, với Adrien Silva chuyển đến AS Monaco theo dạng chuyển nhượng hoán đổi.[17] Vào ngày 9 tháng 3, Tielemans ghi bàn thắng đầu tiên cho Leicester trong chiến thắng 3–1 trước Fulham.[18]

Tielemans được mua đứt bởi Leicester City và gia nhập vĩnh viễn vào ngày 8 tháng 7 năm 2019 theo bản hợp đồng 4 năm với mức phí ước tính là 40 triệu bảng.[19] Anh ghi bàn trong chiến thắng 3–1 trên sân nhà trước Bournemouth vào ngày 31 tháng 8, nhưng gây ra tranh cãi với một pha phạm lỗi với Callum Wilson, người đã thoát khỏi án phạt ngay cả khi đã tham khảo ý kiến với trợ lý trọng tài video.[20] Quyết định đó đã là một sai lầm và Tielemans lẽ ra đã phải bị đuổi khỏi sân.[21]

Vào ngày 15 tháng 5 năm 2021, Tielemans ghi bàn thắng duy nhất trong trận chung kết Cúp FA 2021 bằng một cú sút xa vào góc cao từ cự ly 27 m vào lưới Chelsea ở phút thứ 63 để giúp Leicester giành chức vô địch Cúp FA đầu tiên.[22] Anh được mệnh danh là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.[23]

Aston Villa[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 10 tháng 6 năm 2023, Tielemans đã được chiêu mộ thành công theo dạng tự do bởi câu lạc bộ Aston Villa tại Premier League sau khi hợp đồng với Leicester City của anh hết hạn vào ngày 1 tháng 7.[24][25] Tielemans ra mắt vào ngày 12 tháng 8 trong trận mở màn mùa giải, trong trận thua 5–1 trước Newcastle United khi anh vào sân thay thế Leon Bailey bị chấn thương trong hiệp một.[26]

Vào ngày 26 tháng 10 năm 2023, Tielemans ghi bàn thắng đầu tiên cho Aston Villa trong chiến thắng 4–1 trên sân khách trước AZ Alkmaar tại UEFA Europa Conference League.[27]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 6 năm 2015, Tielemans được triệu tập vào đội tuyển quốc gia Bỉ tham dự vòng loại UEFA Euro 2016 gặp xứ Wales.[28] Cuối cùng, anh đã ra mắt cho đội tuyển quốc gia vào ngày 9 tháng 11 năm 2016 trong trận hòa giao hữu 1–1 trên sân khách với đối thủ Hà Lan khi vào thay Steven Defour ở phút thứ 82.[29]

Tielemans được đưa vào đội hình 23 người của huấn luyện viên Roberto Martínez để tham dự FIFA World Cup 2018Nga.[30] Anh thi đấu bốn trận trong giải đấu, bao gồm trận thắng 2–0 trước Anh ở trận tranh hạng ba.[31]

Tielemans ghi bàn thắng đầu tiên cho tuyển Bỉ vào ngày 21 tháng 3 năm 2019 trong trận đấu gặp Nga tại vòng loại UEFA Euro 2020. Anh được triệu tập vào đội tuyển quốc gia để tham dự UEFA Euro 2020 bị trì hoãn vào tháng 5 năm 2021[32] và để tham dự FIFA World Cup 2022Qatar.[33] Tại World Cup, anh được thay ra ở hiệp một cho Amadou Onana khi đội đã giành chiến thắng vất vả với tỷ số 1–0 trước Canada trong trận mở màn. Anh là cầu thủ dự bị trong hai trận đấu khác của vòng bảng, trong đó Onana và sau đó là Leander Dendoncker đá chính cùng với Axel Witsel.[34][35]

Phong cách chơi bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Tielemans khởi đầu ở vị trí tiền vệ thủ nhưng được huấn luyện viên Besnik Hasi của Anderlecht chuyển sang vai trò tấn công nhiều hơn, nơi anh ghi những bàn thắng từ cự ly xa và được so sánh với Frank LampardAxel Witsel.[6] Một hồ sơ năm 2015 của Sky Sports đã ghi nhận tính linh hoạt của anh ở vị trí tiền vệ phòng ngự hoặc tiền vệ tấn công và đã đưa ra kết luận rằng tốc độ, khả năng chuyền bóng và khả năng sút của anh phù hợp hơn ở vai trò tiền vệ tấn công.[6] Paul Van Himst, cựu cầu thủ Anderlecht và tuyển thủ Bỉ, đồng thời đã nói rằng Tielemans có kỹ năng chuyền bóng cự ly dài tốt.[6]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Tielemans sinh ra ở Sint-Pieters-Leeuw, Vlaams-Brabant, Bỉ,[36] có cha là người gốc Vlaanderen và mẹ là người gốc Cộng hòa Dân chủ Congo.[37] Anh đi học cho đến lúc 18 tuổi khi kết hợp việc học với sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp của mình.[6] Tính đến năm 2020, anh sống ở làng Quorn ở Leicestershire cùng với vợ tên Mendy và ba cô con gái của họ.[38][39]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 27 tháng 4 năm 2024[40]
Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia[a] Cúp Liên đoàn[b] Châu lục Khác Tổng cộng
Hạng đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Anderlecht 2013–14 Belgian Pro League 29 1 2 1 4[c] 0 0 0 35 2
2014–15 Belgian Pro League 39 6 4 2 8[d] 0 1[e] 0 52 8
2015–16 Belgian Pro League 34 6 2 1 9[f] 0 45 7
2016–17 Belgian Pro League 37 13 1 0 15[g] 5 53 18
Tổng cộng 139 26 9 4 0 0 36 5 1 0 185 35
Monaco 2017–18 Ligue 1 27 0 2 0 1 0 4[h] 0 35 1
2018–19 Ligue 1 20 5 1 0 2 0 6[c] 0 1[h] 0 30 5
Tổng cộng 47 5 3 0 3 0 10 1 2 0 65 6
Leicester City (mượn) 2018–19 Premier League 13 3 0 0 13 3
Leicester City 2019–20 Premier League 37 3 2 0 5 2 44 5
2020–21 Premier League 38 6 6 3 0 0 7[f] 0 51 9
2021–22 Premier League 32 6 2 1 2 0 13[i] 0 1[j] 0 50 7
2022–23 Premier League 31 3 2 0 4 1 37 4
Tổng cộng 151 21 12 4 11 3 20 0 1 0 195 28
Aston Villa 2023–24 Premier League 31 1 2 0 1 0 11[k] 1 45 2
Tổng cộng sự nghiệp 368 53 26 8 15 3 77 7 4 0 490 71
  1. ^ Bao gồm Belgian Cup, Coupe de FranceFA Cup
  2. ^ Bao gồm Coupe de la LigueEFL Cup
  3. ^ a b Ra sân tại UEFA Champions League
  4. ^ Ra sân sáu lần tại UEFA Champions League, ra sân hai lần tại UEFA Europa League
  5. ^ Ra sân tại Belgian Super Cup
  6. ^ a b Ra sân tại UEFA Europa League
  7. ^ Ra sân hai lần và ghi một bàn thắng tại UEFA Champions League, ra sân bảy lần và ghi bốn bàn thắng tại UEFA Europa League
  8. ^ a b Ra sân tại Trophée des Champions
  9. ^ Ra sân năm lần tại UEFA Europa League, ra sân tám lần tại UEFA Europa Conference League
  10. ^ Ra sân tại FA Community Shield
  11. ^ Ra sân tại UEFA Europa Conference League

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 26 tháng 3 năm 2024[41][42]
Số lần ra sân và bàn thắng của đội tuyển quốc gia và năm
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Bỉ 2016 2 0
2017 6 0
2018 11 0
2019 9 2
2020 6 2
2021 13 0
2022 10 1
2023 7 0
2024 4 3
Tổng cộng 69 8

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 26 tháng 3 năm 2024
Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Bỉ được để trước, cột tỷ số cho biết tỷ số sau mỗi bàn thắng của Tielemans.[41]
Danh sách các bàn thắng quốc tế được ghi bởi Youri Tielemans
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 21 tháng 3 năm 2019 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Bruxelles, Bỉ  Nga 1–0 3–1 Vòng loại UEFA Euro 2020
2 10 tháng 10 năm 2019 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Bruxelles, Bỉ  San Marino 6–0 9–0
3 15 tháng 11 năm 2020 Den Dreef, Leuven, Bỉ  Anh 1–0 2–0 UEFA Nations League 2020–21 (hạng đấu A)
4 18 tháng 11 năm 2020 Den Dreef, Leuven, Bỉ  Đan Mạch 1–0 4–2
5 11 tháng 6 năm 2022 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Wales 1–0 1–1 UEFA Nations League 2022–23 (hạng đấu A)
6 26 tháng 3 năm 2024 Sân vận động Wembley, Luân Đôn, Anh  Anh 1–0 2–2 Giao hữu
7 2–1
8 22 tháng 6 năm 2024 RheinEnergieStadion, Cologne, Đức  România 1–0 2–0 UEFA Euro 2024

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Premier League clubs publish 2019/20 retained lists” (bằng tiếng Anh). Premier League. 22 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  2. ^ “Youri Tielemans: Overview” (bằng tiếng Anh). ESPN. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  3. ^ “Youri Tielemans” (bằng tiếng Anh). Premier League. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  4. ^ de Cock, Bjorn (28 tháng 10 năm 2013). “In the footsteps of Vincent Kompany: Youri Tielemans”. benefoot.net (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
  5. ^ “Anderlecht 2-3 Lokeren”. Flashscore (bằng tiếng Anh). 27 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
  6. ^ a b c d e f Morgan, Richard (2 tháng 11 năm 2015). “Who is Youri Tielemans? We profile exciting Anderlecht midfielder”. Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  7. ^ “UEFA.com's weekly wonderkid: Youri Tielemans”. UEFA (bằng tiếng Anh). 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
  8. ^ “Club go down 3-0 at Anderlecht”. Club Brugge (bằng tiếng Anh). 4 tháng 6 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
  9. ^ “Gala du Footballeur Pro: Youri Tielemans élu joueur de l'année, René Weiler sacré entraîneur!” [Giải Cầu thủ chuyên nghiệp: Youri Tielemans được bầu là cầu thủ của năm, HLV xuất sắc nhất René Weiler!] (bằng tiếng Pháp). DH. 22 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
  10. ^ “UEFA Europa League Squad of the 2016/17 Season”. UEFA (bằng tiếng Anh). 25 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
  11. ^ Downes, John (24 tháng 5 năm 2017). “Youri Tielemans joins Monaco from Anderlecht despite interest from Manchester United and City”. Mail Online (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2024.
  12. ^ De Beck, Mike (30 tháng 6 năm 2017). “Tielemans meteen goed voor splijtende assist in eerste officiële wedstrijd” [Tielemans chứng tỏ giá trị với pha kiến tạo thông minh trong lần đầu ra sân chính thức] (bằng tiếng Hà Lan). HLN. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2024.
  13. ^ “Champions League: RB Leipzig mit Remis gegen AS Monaco” [Champions League: RB Leipzig hòa AS Monaco]. Der Spiegel (bằng tiếng Đức). 13 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2024.
  14. ^ “Youri Tielemans dans les flops de la première partie de saison en Ligue 1” [Youri Tielemans, một trong những thất bại nửa đầu mùa giải Ligue 1] (bằng tiếng Pháp). 7sur7. 22 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2024.
  15. ^ Vens, Clint (20 tháng 5 năm 2018). “Recordtransfer Anderlecht opgenomen in lijst grootste flops van de Ligue 1” [Kỷ lục chuyển nhượng Anderlecht bị đưa vào danh sách thất bại lớn nhất Ligue 1]. Voetbalkrant (bằng tiếng Hà Lan). Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2024.
  16. ^ Buron, Sébastien (3 tháng 9 năm 2018). “Ligue 1 : Marseille arrache la victoire à Monaco” [Ligue 1: Marseille giành chiến thắng trước Monaco]. L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2024.
  17. ^ “Leicester Complete Loan Signing of Youri Tielemans From Monaco as Adrien Silva Departs”. 90min.com (bằng tiếng Anh). 30 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  18. ^ McNulty, Phil (9 tháng 3 năm 2019). “Leicester 3–1 Fulham: Jamie Vardy double earns Brendan Rodgers first win”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  19. ^ “Leicester phá kỷ lục chuyển nhượng để sở hữu Youri Tielemans”. Lao Động Thủ Đô. 9 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2024.
  20. ^ “Soccer-Bournemouth fume after Tielemans' rash tackle goes unpunished by VAR”. Reuters UK (bằng tiếng Anh). 31 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2024.
  21. ^ Stone, Simon (12 tháng 9 năm 2019). “VAR: Four incorrect decisions fail to be overturned in Premier League”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2024.
  22. ^ Quang Huy (16 tháng 5 năm 2021). “Hạ Chelsea, Leicester đoạt Cup FA”. VnExpress. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2024.
  23. ^ McNulty, Phil (15 tháng 5 năm 2021). “Youri Tielemans produced one of the great FA Cup final goals to give Leicester City the trophy for the first time in their history with victory over Chelsea at Wemble”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2024.
  24. ^ Đỗ Trung (1 tháng 7 năm 2023). “Aston Villa chiêu mộ thành công Tielemans”. Bongdaplus-Báo Bóng đá. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  25. ^ “Aston Villa announce Youri Tielemans agreement”. Aston Villa Football Club (bằng tiếng Anh). 10 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  26. ^ Vy Anh (13 tháng 8 năm 2023). “Newcastle thắng tưng bừng ở Ngoại hạng Anh”. VnExpress. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  27. ^ Blitz, Sam (26 tháng 10 năm 2023). “AZ Alkmaar 1-4 Aston Villa: Unai Emery's side score four goals again as they claim Europa Conference League win”. Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  28. ^ “Euro 2016 qualifiers: Belgium's Marouane Fellaini out of Wales tie”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). 10 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  29. ^ “Netherlands 1-1 Belgium (Nov 9, 2016), Full Commentary”. ESPN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  30. ^ “World Cup 2018: Belgium include Vincent Kompany but Christian Benteke misses out”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). 4 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  31. ^ Đình Thảo (14 tháng 7 năm 2018). “Đánh bại tuyển Anh, ĐT Bỉ giành hạng ba World Cup 2018”. Lao Động. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  32. ^ updated, FourFourTwo Staff last (27 tháng 6 năm 2021). “Belgium Euro 2020 squad: Full team profile”. fourfourtwo.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  33. ^ Lea, Greg; Kunti, Samindra; Mackenzie, Alasdair (1 tháng 12 năm 2022). “Belgium World Cup 2022 squad and preview: Roberto Martinez announces final 26-man team”. FourFourTwo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  34. ^ Huy Hiếu (27 tháng 11 năm 2022). “Kết quả Bỉ 0-2 Morroco: Cú sốc mang tên Ma-rốc”. Bongdaplus-Báo Bóng đá. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  35. ^ “Bỉ chia tay World Cup 2022, Maroc cùng Croatia giành vé đi tiếp”. Nhân Dân. 2 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  36. ^ “Youri Tielemans”. worldfootball.net (bằng tiếng Anh). 21 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  37. ^ Bate, Adam; Terreur, Kristof (6 tháng 1 năm 2014). “Targets: Belgium”. Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  38. ^ Davies, Matt (14 tháng 10 năm 2019). “Leicester City star announces arrival of new baby day after scoring for his country”. Leicestershire Live (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  39. ^ Percy, John (3 tháng 10 năm 2020). “Youri Tielemans exclusive interview: 'Lucky Leicester? We were just better than Manchester City'. The Telegraph (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  40. ^ “Y. Tielemans”. Soccerway (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  41. ^ a b Tielemans, Youri tại National-Football-Teams.com
  42. ^ “Youri Tielemans”. EU-Football.info (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]