Yugure (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Yugure II.jpg
Tàu khu trục Yugure, ảnh chụp trong khoảng ngày 4 đến ngày 7 tháng 10 năm 1935
Lịch sử
Naval Ensign of Japan.svgNhật Bản
Tên gọi Yugure
Đặt hàng Năm tài chính 1933
Hãng đóng tàu Xưởng hải quân Maizuru
Đặt lườn 9 tháng 4 năm 1933
Hạ thủy 6 tháng 5 năm 1934
Nhập biên chế 30 tháng 3 năm 1935
Xóa đăng bạ 15 tháng 10 năm 1943
Số phận Bị máy bay Mỹ đánh chìm gần Kolombangara, 20 tháng 7 năm 1943
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu Lớp tàu khu trục Hatsuharu
Trọng tải choán nước list error: <br /> list (help)
1.530 tấn (tiêu chuẩn)
1.802 tấn (đầy tải)
Độ dài list error: <br /> list (help)
105,5 m (346 ft 1 in) (mực nước)
109,5 m (359 ft 3 in) (chung)
Sườn ngang 10 m (32 ft 10 in)
Mớn nước 3,38 m (11 ft)
Động cơ đẩy list error: <br /> list (help)
2 × turbine hơi nước hộp số Kampon
3 × nồi hơi
2 × trục
công suất 42.000 mã lực (31,3 MW)
Tốc độ 66,7 km/h (36 knot)
Tầm xa list error: <br /> list (help)
7.400 km ở tốc độ 26 km/h
(4.000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ
212
Vũ trang list error: <br /> list (help)
5 × hải pháo 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 (2×2,1×1)
2 × pháo phòng không QF 2 pounder (40 mm) Mark II (2×1)
× ống phóng ngư lôi 610 mm (3×3)
18 × mìn sâu

Yugure (tiếng Nhật: 夕暮; Hán Việt: Tịch mộ; chiều tà) là một tàu khu trục hạng nhất thuộc lớp Hatsuharu bao gồm sáu chiếc của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, được chế tạo trong những năm 1931-1933. Yugure đã tham gia nhiều hoạt động tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai trước khi bị máy bay Mỹ đánh chìm gần Kolombangara vào ngày 20 tháng 7 năm 1943.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục tiên tiến Hatsuharu được dự định để cung cấp cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản những tàu khu trục nhỏ hơn và ít tốn kém hơn so với các lớp tàu khu trục FubukiAkatsuki trước đó, nhưng được trang bị vũ khí về cơ bản là tương đương.[1] Những mục đích mâu thuẫn với nhau này tỏ ra vượt quá khả năng thiết kế tàu khu trục đương thời, nên hậu quả là những con tàu bị nặng đầu, mắc phải vấn đề độ ổn định nghiêm trọng và những yếu kém cố hữu trong cấu trúc. Mười hai tàu khu trục thuộc lớp này đã được chấp thuận cho chế tạo vào năm 1931 như một phần của cái gọi là Chương trình Bổ sung Vũ khí Hải quân Nhật Bản (1931) (Maru Ichi Keikaku); ba chiếc được đặt lườn vào năm tài chính 1931 và ba chiếc tiếp theo trong năm tài chính 1933. Tuy nhiên, sáu chiếc còn lại được chế tạo như những chiếc thuộc lớp Shiratsuyu.[2]

Những tàu khu trục lớp Hatsuharu sử dụng cùng kiểu hải pháo 127 mm (5 inch)/50 caliber đã trang bị cho lớp Fubuki, nhưng mọi tháp pháo đều có thể nâng đến một góc 75°, cho phép dàn pháo chính có khả năng tối thiểu đương đầu với máy bay. Ngư lôi 610 mm Kiểu 90 được trang bị trên các ống phóng Kiểu 90 loại 2 ba nòng, được xoay bằng một hệ thống điện-thủy lực, và có thể xoay 360° trong vòng 25 giây; nếu hệ thống quay tay dự phòng được sử dụng, thời gian cần đến là hai phút. Mỗi ống phóng ngư lôi có thể nạp lại trong vòng 23 giây sử dụng dây tời.[3] Yugure được đặt lườn vào ngày 9 tháng 4 năm 1933 tại Xưởng hải quân MaizuruMaizuru, Kyoto, được hạ thủy vào ngày 6 tháng 5 năm 1934 và đưa ra hoạt động vào ngày 30 tháng 3 năm 1935.[4] Sau "Sự kiện Tomozuru" năm 1934 và "Sự kiện Hạm đội 4 " năm 1935, Yugure được cho cải biến đáng kể để khắc phục những khiếm khuyết nói trên.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Yugure được phân về Hải đội Khu trục 27 của Đội 1 trực thuộc Hạm đội 1 Hải quân Đế quốc Nhật Bản cùng với các tàu khu trục Shiratsuyu, ShigureAriake, và đặt căn cứ tại Hashirajima trong vùng biển nội địa Nhật Bản để tuần tra chống tàu ngầm.

Vào tháng 1 năm 1942, Yugure hộ tống các tàu sân bay HiryūSōryū đi đến PalauAmbon trong cuộc chiếm đóng Đông Ấn thuộc Hà Lan, và tham gia vào cuộc ném bom Darwin vào ngày 19 tháng 2 năm 1942. Sau đó nó đặt căn cứ tại vịnh Staring thuộc Sulawesi, nơi nó thực hiện các nhiệm vụ tuần tra hô tống cho đến cuối tháng 3. Nó quay trở về Xưởng hải quân Sasebo để sửa chữa từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 năm 1942. Vào cuối tháng 4, Yugure đi đến Truk trong thành phần hộ tống cho các tàu sân bay ShōkakuZuikaku, và nằm trong thành phần lực lượng của Đô đốc Takeo Takagi trong trận chiến biển Coral.

Sang tháng 5, Yugure chuyển sang hộ tống các tàu tuần dương MyōkōHaguro quay trở về Kure. Trong thời gian diễn ra trận Midway, Ariake nằm trong thành phần lực lượng chiếm đóng quần đảo Aleut dưới quyền Đô đốc Shirō Takasu. Được điều về Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản vào ngày 14 tháng 7, nó lại được tạm thời cho tách ra để hoạt động cùng Hạm đội 4 trong một chuyến đi từ Truk đến Jaluit vào ngày 20 tháng 8. Sau khi bắn phá đảo Ocean trong ngày 23 tháng 8, một lực lượng đổ bộ từ Yugure đã chiếm đóng hòn đảo như một phần của "Chiến dịch RY" vào ngày 26 tháng 8 cho đến khi được thay phiên bởi một lực lượng đồn trú vào ngày 30 tháng 8.

Yugure sau đó được điều về khu vực quần đảo Solomon, thực hiện nhiều chuyến đi Tốc hành Tokyo vận chuyển tốc độ cao khắp khu vực quần đảo Solomon cho đến tháng 1 năm 1943. Mặc dù không tham gia trực tiếp vào trận hải chiến Guadalcanal thứ nhất, nó đã tham gia vào các hoạt động giải cứu sau đó, vớt lên tàu những người còn sống sót từ thiết giáp hạm Hiei bị đánh đắm.

Sau khi quay trở về Sasebo để sửa chữa cho đến giữa tháng 1 năm 1943, Yugure hộ tống một đoàn tàu vận tải đi đến Thanh Đảo, và từ đây đi đến PalauWewak vào cuối tháng 2. Nó hộ tống một đoàn tàu vận tải khác từ Truk đến Wewak và quay trở về Yokosuka vào tháng 3 và một lần nữa vào tháng 5. Nó lại đi đến Truk trong thành phần hộ tống cho tàu sân bay Unyō, rồi lại quay trở về cùng với thiết giáp hạm Musashi vào cuối tháng 5. Vào đầu tháng 6, nó lên đường hộ tống chiếc tàu sân bay Hiyō đi đến Truk, rồi quay trở về cùng con tàu trên bị hư hại vài ngày sau đó. Vào cuối tháng 6, nó hộ tống tàu sân bay Ryūhō đi từ Yokosuka đến Truk.

Vào đầu tháng 7, Yugure được giao nhiệm vụ bảo vệ các chuyến đi vận chuyển binh lính đến Kolombangara. Ngày 12 tháng 7 năm 1943, nó tham gia trận Kolombangara, trợ giúp vào việc đánh chìm tàu khu trục USS Gwin và gây hư hại các tàu tuần dương hạng nhẹ USS HonoluluUSS St. Louis. Tuy nhiên, vài ngày sau đó, khi thực hiện một chuyến đi vận chuyển binh lính đến Kolombangara trong đêm 19 tháng 7 năm 1943, Yugure bị các máy bay TBF Avenger của lực lượng Thủy quân Lục chiến Mỹ cất cánh từ Guadalcanal ném bom đánh chìm ở về phía Tây Bắc Kolombangara, ở tọa độ 07°25′N 156°45′Đ / 7,417°N 156,75°Đ / -7.417; 156.750. Tàu khu trục Kiyonami đến tiếp cứu cũng bị đánh chìm mà không có người nào sống sót; khiến cho tổng cộng có đến 468 người thiệt mạng chung cho cả hai chiếc KiyonamiYugure.

Vào ngày 15 tháng 10 năm 1943, Yugure được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ GlobalSecurity.org: IJN Hatsuharu class
  2. ^ Lengerer, trang 92-93
  3. ^ Lengerer, trang 102-103
  4. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Hatsuharu class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Lengerer, Hans (2007). The Japanese Destroyers of the Hatsuharu Class. Warship 2007. London: Conway. tr. 91–110. ISBN 1-84486-041-8.  OCLC 77257764
  • Morison, Samuel Eliot (1961). Aleutians, Gilberts and Marshalls, June 1942-April 1944, vol. 7 of History of United States Naval Operations in World War II. Boston: Little, Brown and Company. ASIN B0007FBB8I. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1854095218. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]