Zalcitabine

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Zalcitabine
Zalcitabine.svg
Dữ liệu lâm sàng
Tên thương mạiHivid (discontinued)
AHFS/Drugs.comChuyên khảo
Danh mục cho thai kỳ
  • AU: D
  • US: C (Rủi ro không bị loại trừ)
Dược đồ sử dụngOral
Mã ATC code
Tình trạng pháp lý
Tình trạng pháp lý
  • UK: POM (chỉ bán theo đơn)
  • US: ℞-only
  • Nói chung: ℞ (Thuốc kê đơn)
Dữ liệu dược động học
Sinh khả dụng>80%
Liên kết protein huyết tương<4%
Chuyển hóa dược phẩmGan
Chu kỳ bán rã sinh học2 hours
Bài tiếtThận (circa 80%)
Các định danh
Số đăng ký CAS
PubChem CID
IUPHAR/BPS
DrugBank
ChemSpider
Định danh thành phần duy nhất
KEGG
ChEBI
ChEMBL
NIAID ChemDB
Dữ liệu hóa lý
Công thức hóa họcC9H13N3O3
Khối lượng phân tử211.218 g/mol g·mol−1
Mẫu 3D (Jmol)
  (kiểm chứng)

Zalcitabine (2′-3′-di deoxycytidine, ddC), còn được gọi dideoxycytidine, là một chất ức chế sao chép ngược tương tự nucleoside (NRTI) được bán dưới tên thương mại Hivid. Zalcitabine là thuốc kháng vi-rút thứ ba được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê chuẩn để điều trị HIV/AIDS. Nó được sử dụng như một phần của chế độ kết hợp.

Zalcitabine xuất hiện ít mạnh hơn một số RTI nucleoside khác, có tần suất ba lần bất tiện hàng ngày và có liên quan đến các tác dụng phụ nghiêm trọng. Vì những lý do này, hiện nay nó hiếm khi được sử dụng để điều trị virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và thậm chí nó đã bị loại bỏ hoàn toàn khỏi các nhà thuốc ở một số quốc gia. [cần dẫn nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Zalcitabine được tổng hợp lần đầu tiên vào những năm 1960 bởi Jerome Horwitz [1][2] và sau đó được phát triển thành một tác nhân chống HIV bởi Samuel Broder, Hiroaki MitsuyaRobert Yarchoan tại Viện Ung thư Quốc gia (NCI). Giống như didanosine, sau đó nó đã được cấp phép vì NCI có thể không tiếp thị hoặc bán thuốc. Do đó, Viện Y tế Quốc gia (NIH) đã cấp phép cho Hoffmann-La Roche.

Zalcitabine là thuốc kháng vi-rút thứ ba được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê chuẩn để điều trị HIV/AIDS. Nó đã được phê duyệt vào ngày 19 tháng 6 năm 1992 dưới dạng đơn trị liệu và một lần nữa vào năm 1996 để sử dụng kết hợp với zidovudine (AZT). Sử dụng kết hợp NRTI là trong thực tế trước khi có sự chấp thuận thứ hai của FDA và phối hợp ba loại thuốc với NRTI kép và thuốc ức chế protease (PI) không còn xa nữa vào thời điểm này.

Việc bán và phân phối zalcitabine đã bị ngừng từ ngày 31 tháng 12 năm 2006.[3]

Cơ chế hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Zalcitabine là một chất tương tự của pyrimidine. Nó là một dẫn xuất của deoxy cytidine tự nhiên, được tạo ra bằng cách thay thế nhóm hydroxyl ở vị trí 3 'bằng hydro.

Nó được phosphoryl hóa trong các tế bào T và các tế bào đích HIV khác thành dạng triphosphate hoạt động của nó, ddCTP. Chất chuyển hóa hoạt động này hoạt động như một chất nền cho enzyme sao chép ngược HIV, và cũng bằng cách kết hợp vào DNA virus, do đó chấm dứt sự kéo dài chuỗi do thiếu nhóm hydroxyl. Vì zalcitabine là chất ức chế men sao chép ngược nên nó chỉ có hoạt tính chống lại retrovirus.

Dược động học[sửa | sửa mã nguồn]

Zalcitabine có tỷ lệ hấp thu qua đường uống rất cao trên 80%. Nó chủ yếu được loại bỏ bằng con đường thận, với thời gian bán hủy là 2 giờ.[4]

Tương tác thuốc[sửa | sửa mã nguồn]

Lamivudine (3TC) ức chế đáng kể sự phosphoryl hóa nội bào của zalcitabine thành dạng hoạt động, và theo đó các loại thuốc không nên được sử dụng cùng nhau.[4]

Ngoài ra, zalcitabine không nên được sử dụng với các thuốc khác có thể gây ra bệnh thần kinh ngoại biên, chẳng hạn như didanosinestavudine.[4]

Những sự kiện đối lập[sửa | sửa mã nguồn]

Các tác dụng phụ phổ biến nhất khi bắt đầu điều trị là buồn nôn và đau đầu. Các tác dụng phụ nghiêm trọng hơn là bệnh thần kinh ngoại biên, có thể xảy ra ở 33% bệnh nhân mắc bệnh tiến triển, loét miệng, loét thực quản và hiếm khi, viêm tụy.[4]

Kháng thuốc[sửa | sửa mã nguồn]

Kháng với zalcitabine phát triển không thường xuyên so với các nRTI khác, và thường chỉ xảy ra ở mức độ thấp.[5] Đột biến phổ biến nhất được quan sát thấy trên vivo là T69D, không xuất hiện để tăng khả năng kháng chéo với các nRTI khác; đột biến ở các vị trí 65, 74, 75, 184 và 215 trong gen pol được quan sát hiếm hơn.[4][5]

Thuốc đặc trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1992 dideoxycytidine được liệt kê là một loại thuốc đặc trị.[6]

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Horwitz, Jerome P.; Chua, Jonathan; Rooge, Margaret A. Da và đồng nghiệp (1966). “Nucleosides. IX. The Formation of 2',3'-Unsaturated Pyrimidine Nucleosides via a Novel β-Elimination Reaction1,2”. The Journal of Organic Chemistry (American Chemical Society (ACS)) 31 (1): 205–211. ISSN 0022-3263. PMID 5900814. doi:10.1021/jo01339a045. 
  2. ^ Oral account of the history of AZT, d4T and ddC by Jerome HorwitzHiroaki Mitsuya in the documentary film I am alive today - History of an AIDS drug.
  3. ^ HIVID (zalcitabine) tablets. Dear Health Care Professional Letter. (June 2006)
  4. ^ a ă â b c HIVID (zalcitabine) tablets. Product information. (September 2002)
  5. ^ a ă Moyle, Graeme J. (1996). “Use of Viral Resistance Patterns to Antiretroviral Drugs in Optimising Selection of Drug Combinations and Sequences”. Drugs (Springer Nature) 52 (2): 168–185. ISSN 0012-6667. PMID 8841736. doi:10.2165/00003495-199652020-00002. 
  6. ^ Töglhofer, W. (1992). “New, in Austria registered specialty drugs. Hivid (2',3'-dideoxycytidine; ddC)”. Wien Klin Wochenschr 104: 363–7. PMID 1353278. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]