Zanne Stapelberg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Zanne Stapelberg
Chức vụ
Thông tin chung

Zanne Stapelberg (12 tháng 8 năm 1977) là một nhạc sĩ người Nam Phi.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Zanne Stapelberg sinh ra ở Bellville, năm 1977 và lớn lên ở vùng ngoại ô Durbanville. Cô trúng tuyển vào trường trung học Durbanville.[2]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Stapelberg bắt cô opera đào tạo tại Nhạc viện của Đại học Stellenbosch (với Magdalena Oosthuizen) và tốt nghiệp vào năm 1998 với một mức độ trong âm nhạc và Văn học Anh. Trường đại học cũng trao cho cô thành tích học tập khác nhau và các học sinh hát. Năm 1999, cô đã nhận được bằng cấp cao hơn trong buổi biểu diễn âm nhạc Cum Laude.

Cuộc sống chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2000, Stapelberg trở thành thành viên của Nhà hát Opera Cape Town. Năm 2001, cô nhận được giải thưởng Ca sĩ Opera trẻ xuất sắc nhất từ Cape Town Friends of the Opera.[3]

Vai trò điều hành bao gồm Angelica trong Suor Angelica,[4] Mimì trong Puccini's La bohème,[5] Nella ở Gianni Schicchi,[6] Ilia ở Mozart,[7] Idomeneo, Marguerite ở Gounod,[8] Faust, Hand s Alcina và Pamina trong Die Zauberflöte của Mozart.[9]

Oratorio của cô bao gồm Messiah của Handel, Vivaldi của Gloria, Haydn Die Schöpfung, Mozart Dixit DominusRequiem, Brahms' Ein Deutsches Requiem, Dvořák của Requiem, Carla trong William Kentridge 'Confessions of Zeno s, sáng tác bởi Kevin Volans, cũng như Aqua Opera tại bến cảng Victoria & Alfred năm 2003 và 2004.

Các màn trình diễn khác bao gồm dàn dựng của Stravinsky's Pulcinella của Marthinus Basson.

Stapelberg đã hợp tác với nhà soạn nhạc người Nam Phi Hendrik Hofmeyr, trên Byzantium cho soprano và dàn nhạc, Cái chết của Cleopatra và nhiều chu kỳ bài hát khác của ông. Một trong số đó, Die Stil Avontuur, bao gồm các tác phẩm của nhà thơ Nam Phi, Elisabeth Eybers, được sáng tác riêng cho giọng hát của Stapelberg.

Cô đã nhận được giải thưởng Kanna cho sản xuất cổ điển xuất sắc nhất năm 2014 tại Liên hoan nghệ thuật quốc gia Klein Karoo, cùng với Bộ tứ chuỗi Odeion.[10]

Ngoài các buổi biểu diễn hoạt động và hòa nhạc, Stapelberg còn tham gia vào các dự án sân khấu sáng tạo khác nhau với công ty Long Tall Women Productions của cô; vào năm 2006, cô đã ra mắt vở opera-cabaret, Zanne.[11]

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

  • Linh hồn lửa (2012) [12]
  • Zanne Stapelberg Opera Gala (2013) [13]


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “South African musicians list”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  2. ^ “Zanne Stapelberg (matriek 1995) –die vrou met die engelstem (Translated: Zanne Stapelberg (matric 1995) – the woman with the voice on an angel” (PDF). Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  3. ^ “Uitkyk Hosts Zanne Stapelberg and New York's Kathleen Tagg in "Celebration of Song”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  4. ^ “Klassieke klanke: Zanne Stapelberg (Translated Classical Sounds)”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  5. ^ “La Bohème”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  6. ^ “Zanne Stapelberg and Albert Combrink performing at "Opera in a Convent”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  7. ^ “Spieël Speel met Kathleen Tagg en Zanne Stapelberg (translated Mirror play with Kathleen Tagg and Zanne Stapelberg”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  8. ^ “Opera in hell”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  9. ^ “Zanne Stapelberg”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  10. ^ “South Africa’s musos dish on being a woman in music”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  11. ^ “George Arts Theatre Programme of Events”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  12. ^ “Soul of Fire”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  13. ^ “Zanne Stapelberg to perform in two opera galas”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018.