ZiS-3

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Pháo dã chiến cấp sư đoàn 76-mm M1942 (ZiS-3)
76 mm divisional gun M1942 (ZiS-3) 001.jpg
ZiS-3 tại Nizhny Novgorod, Nga
Loạipháo dã chiến
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Sử dụng bởi Liên Xô
 Việt Nam
 Lào
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam[1]
Nội chiến Liban
Chiến tranh biên giới Nam Phi
Nội chiến Angola
Chiến tranh Uganda–Tanzania
Chiến tranh Afghanistan[2]
Chiến tranh Nam Tư
Nội chiến Yemen
Lược sử chế tạo
Người thiết kếPhòng thiết kế Nhà máy pháo 92
do V. G. Grabin chủ nhiệm
Giai đoạn sản xuất1941–1945
Số lượng chế tạohơn 103.000
Thông số
Khối lượngchiến đấu: 1116 kg
hành quân: 2150 kg
[3]
Độ dài nòng3,4 m[4]
Chiều rộng1,6 m[4]
Chiều cao1,37 m[4]
Kíp chiến đấu7 người

Đạn pháo76,2 × 385 mm. R[4][5]
Cỡ đạn76,2 mm
Khóa nòngBán tự động[4]
Độ giậtThủy lực[4]
Bệ pháoRãnh tháo lắp
Cao độ−5° đến +37°
Xoay súng54°
Tốc độ bắn25 phát/phút
Tầm bắn xa nhất13,29 km

ZiS-3 hay M1942 76 mm là loại pháo dã chiến cấp sư đoàn cỡ nòng 76,2 mm do nhà máy ZiS của Liên Xô chế tạo, được Hồng quân Liên Xô sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau chiến tranh, Liên Xô dừng sản xuất loại pháo này, dần thay thế nó bằng pháo D-44 cỡ nòng 85 mm, và chuyển giao cho nhiều nước đồng minh. Pháo dã chiến 76 mm ZiS-3 vẫn được sử dụng trong hàng loạt các cuộc chiến tranh thời chiến tranh lạnh, như chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, nội chiến Liban, chiến tranh biên giới Nam Phi, nội chiến Angola, chiến tranh Uganda-Tanzania, chiến tranh Afghanistan, chiến tranh Nam Tưnội chiến Yemen hiện nay.

ZiS-3 vốn được thiết kế làm pháo kéo. Tuy nhiên, nó cũng được Quân đội Liên Xô biến đổi thành pháo tự hành, thành SU-76. Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng đã đưa ZiS-3 lên khung gầm M548 của Mỹ thành pháo tự hành.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Schuster, Carl Otis; Coffey, David (tháng 5 năm 2011). “Vietnam, Democratic Republic of, Army”. Trong Tucker, Spencer C. (biên tập). The Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social, and Military History (ấn bản 2). tr. 1251. ISBN 978-1-85109-960-3.
  2. ^ Isby, David C. (1990). The War in Afghanistan 1979-1989: The Soviet Empire at High Tide. Concord Publications. tr. 41. ISBN 978-9623610094.
  3. ^ Foedrowitz, Michael (1996). Soviet Field Artillery in World War 2. Schiffer Military History. tr. 11.
  4. ^ a ă â b c d Foss, Christopher (1977). Jane's pocket book of towed artillery. New York: Collier. tr. 37. ISBN 0-02-080600-0. OCLC 911907988.
  5. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020.
  6. ^ http://netnews.vn/Phao-tu-hanh-nang-cap-Made-in-Vietnam-the-hien-uy-luc-dung-manh-trong-nhiem-vu-dac-biet-quan-su-150-0-2088575.html