Bệnh bạch cầu myeloid cấp tính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bệnh bạch cầu myeloid cấp tính
Phân loại và tư liệu bên ngoài

Hút tủy xương cho thấy bệnh bạch cầu myeloid cấp tính. Các mũi tên chỉ Auer rod.
ICD-10 C92.0
ICD-9 205.0
ICD-O: M9861/3
OMIM 602439
DiseasesDB 203
MedlinePlus 000542
eMedicine med/34
MeSH D015470

Bệnh bạch cầu myeloid cấp tính (AML), còn được gọi là bệnh bạch cầu nguyên bào tuỷ cấp tính, là một bệnh ung thư dòng tủy của các tế bào máu, đặc trưng bởi sự tăng trưởng nhanh chóng của các tế bào máu trắng bất thường tích tụ trong tủy xương và ảnh hưởng đến việc tạo ra các tế bào máu bình thường. AML là bệnh bạch cầu cấp tính phổ biến nhất ảnh hưởng đến người lớn, và tỷ lệ của nó tăng lên cùng với tuổi tác. Mặc dù AML là một bệnh tương đối hiếm, chiếm khoảng 1,2% tử vong do ung thư tại Hoa Kỳ[1], tỷ lệ của nó dự kiến ​​sẽ gia tăng khi dân số già đi. Bệnh này phổ biến ở nam giới hơn phụ nữ. Các triệu chứng của AML được gây ra bởi thay thế tủy xương bình thường với các tế bào bạch cầu, gây ra sự suy giảm các tế bào hồng cầu, tiểu cầu, và các tế bào máu bình thường màu trắng. Những triệu chứng bao gồm mệt mỏi, khó thở, dễ bị bầm tím và chảy máu, và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Một số yếu tố nguy cơ và bất thường nhiễm sắc thể đã được xác định, nhưng nguyên nhân cụ thể là không rõ ràng. Là một bệnh bạch cầu cấp tính, AML tiến triển nhanh chóng và thường gây tử vong trong vòng vài tuần hoặc vài tháng nếu không được điều trị. AML có một số phân nhóm điều trị và tiên lượng khác nhau giữa các phân nhóm. Bệnh nhân sống 5 năm từ khi phát bệnh chiếm khoảng từ 15-70%, và tỷ lệ tái phát trong khoảng 33-78%, tùy thuộc vào kiểu phụ. AML được điều trị ban đầu bằng hóa trị nhằm gây một sự thuyên giảm, bệnh nhân có thể được hóa trị bổ sung hoặc cấy ghép tế bào gốc cấy ghép tế bào tạo máu. Gần đây nghiên cứu di truyền học của AML đã dẫn đến sự sẵn có của các bài kiểm tra có thể xác định loại thuốc nào có thể có tác dụng tốt nhất cho một bệnh nhân cụ thể, cũng như thời gian bệnh nhân đó có khả năng sống sót.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jemal A, Thomas A, Murray T, Thun M (2002). “Cancer statistics, 2002”. CA Cancer J Clin 52 (1): 23–47. doi:10.3322/canjclin.52.1.23. PMID 11814064. 

Bản mẫu:Sơ khai y khoa