Siêu bazơ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trong hóa học, một siêu bazơ là một bazơ cực mạnh. Hiện nay vẫn chưa có tiêu chuẩn được chấp nhận chung cho "mạnh hơn cái gì?" mặc dù phần lớn các nhà hóa học thường xuyên coi hyđroxit natri như là bazơ 'điểm chuẩn' của họ giống như họ sử dụng axít sulfuric làm axít 'điểm chuẩn' (xem siêu axít). Ion hyđroxit là một điểm chuẩn tốt, do nó là bazơ mạnh nhất có thể tồn tại trong dung dịch nước; các bazơ mạnh hơn sẽ trung hòa nước như là một axít bằng cách khử proton của nó, để sinh ra hyđroxit (và siêu bazơ proton hóa). Một thói quen thông thường khác có thể định nghĩa siêu bazơ là khử α proton lượng pháp của hợp chất cacbonyl thành dạng enol, một điều không thể thực hiện được bằng các "bazơ thông thường". Mặc cho điều này, nhưng thuật ngữ vẫn chưa có định nghĩa hóa học tiêu chuẩn, vì thế 1,8-Bis(dimetylamino)naphtalen có thể được gọi là "siêu bazơ".

Proton Sponge 1,8-Bis(dimethylamino)naphthalene

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Có ba lớp chính các siêu bazơ: hữu cơ, kim loại hữu cơvô cơ.

Trong tổng hợp hữu cơ, bazơ Lochmann-Schlosser, tổ hợp của n-butyl liti (C4H9Li) và tert-butôxít kali ((CH3)3COK), nói chung được coi là một siêu bazơ. Trong tổ hợp này của các tác nhân thì muối rượu bậc ba này của kali kết hợp mạnh với ion liti của tổ hợp, giải phóng butyl (C4H9) ra khỏi sự kết hợp chặt chẽ của nó với ion kim loại (Li). Những hệ thống như thế được gọi chung là các bazơ lao móc, do tác động của chúng tựa như các lao móc trong thực tế.

Các siêu bazơ vô cơ thông thường là các muối với các ion âm nhỏ, điện tích cao, chẳng hạn nitrua liti, có mật độ điện tích âm cực cao và vì thế nó thu hút rất mạnh các ion hiđrôni (H3O+).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]