Tranh Tố Nữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ tranh Tố Nữ

Tranh Tố Nữ là tên một loại tranh dân gian thuộc dòng tranh Hàng Trống của Việt Nam. Tranh Tố Nữ thuộc thể loại tranh Tứ Bình (bao gồm 4 bức tranh), thể hiện 4 thiếu nữ Việt Nam có trang phục xưa, vấn tóc, mặc áo dài và đều đang đứng với 4 cử chỉ khác nhau: cô thổi sáo, cô cầm xênh phách, cô cầm quạt và cô gảy đàn nguyệt. Mỗi người một vẻ đẹp và mang nét mặt thể hiện tâm hồn thiếu nữ Việt Nam xưa. Đi kèm theo mỗi bức tranh là có một bài thơ tứ tuyệt, viết bằng chữ Hán. Bộ tranh này mang đậm nét văn hoá dân tộc.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã làm bài thơ Đề tranh Tố Nữ:

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh
Xiếu mai chi dám tình trăng gió
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ
Trách người thợ vẽ khéo vô tình

Nhà thơ Chế Lan Viên cũng có nhắc đến bức tranh này trong thơ của mình:

Điệu lục bát và mầu xanh nơi ruộng rẫy
Bức tranh làng Hồ, cô tố nữ dáng quê hương...

Còn trong dân gian, có câu truyện Bích Câu kỳ ngộ liên quan đến bức tranh Tố Nữ. Truyện kể rằng vào đời Lê Thánh Tông, có một thư sinh tên là Trần Tú Uyên. Khi đi chơi chợ Cầu Đông, chàng đã mê mẩn một bức tranh Tố Nữ và mua, đem về nhà treo ở thư phòng. Rồi cứ mỗi bữa ăn, chàng lại dọn hai cái bát, hai đôi đũa, mời Tố Nữ cùng ăn và thỉnh thoảng lại chuyện trò, đối đãi như người thực. Một hôm Tú Uyên ở trường học về, thấy mâm cơm đã dọn sẵn. Hôm sau chàng giả cách ra đi, nhưng lẻn về đứng rình một chỗ. Quả nhiên, thấy Tố Nữ trong tranh hiện ra thành người thực...

Có người thắc mắc tại sao bốn bức tranh dân gian Việt Nam vẽ bốn cô thiếu nữ mặc áo dài Việt Nam lại đề tựa thơ tiếng Hán, chứ không phải tiếng Việt? Câu chuyện Bích câu kỳ ngộ trên cho thấy Bộ tranh Tố nữ đã ra đời trước thời Lê Thánh Tông (1492-1497)[1]. Trong khi đó, tác phẩm chữ Quốc ngữ hoàn chỉnh đầu tiên được biết đến nay là Bộ từ điển Việt - Bồ - La của nhà truyền đạo Alexandre de Rhodes ra đời năm 1651 và mãi đến tận thế kỷ XIX, chữ Quốc ngữ mới được sử dụng phổ biến [2]. Có lẽ vì thế mà bốn bài thơ trên bộ tranh nguyên gốc được viết bằng tiếng Hán. Dưới đây là bản bằng tiếng Hán Việt và lược dịch tiếng Việt của bốn bài thơ trên:

CÔ THỔI SÁO

Thùy gia ngọc địch ám phi thanh

Tán nhập xuân phong mãn Lạc Thành

Thử dạ khúc Trung văn chiết liễu

Hà nhân bất khởi cố viên tình

Lược dịch:

Nhà ai sáo ngọc tiếng mơ màng

Theo gió xuân vào khắp Lạc – Dương

Văng vẳng đêm nay bài "Chiết liễu"

Ai người không chạnh nỗi tha hương

CÔ CẦM QUẠT

Hồng nha thôi phách yến phi mang

Nhất phiến hành vân đáo họa đường

Vũ bãi, cao liêm thâu mực tống

Bất tri thùy thị Sở Tương Vương

Lược dịch:

Thẻ hồng dồn phách én bay phăng

Lửng thửng guồng mây đến họa đường

Múa hết, rèm cao đưa khóc hạnh

Chẳng ai hay đó Sở Tương Vương

CÔ CẦM XÊNH

Nhất điểm anh đào khải giáng thuần

Lưỡng hàng toái ngọc phuốn dương xuân

Hòa hoa phong niệu thiên chi mận

Án triệt Dương châu liên bộ tân

Lược dịch:

Môi son vừa hé nụ anh đào

Răng ngọc hai hàng nhả điệu cao

Trước gió nghìn cành hoa nhún nhảy

Gót sen lần nhịp đến Dương – châu

CÔ GẢY ĐÀN

Song tiền đối nguyệt sơ minh

Hảo bả cầm lai khúc điểm tình

Đàn tả huy âm vi nhã thú

Chỉ tương ngọc luật tự âm thanh

Lược dịch:

Trước song ngồi ngắm nguyệt đầu canh

Ôm chiếc cầm trăng dạo khúc tình

Đàn tả huy âm vi nhã thú

Chỉ tương ngọc luật tự âm thanh

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Vua Lê Thánh Tông
  2. ^ Quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ

[1]