Đại học Paris
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đại học Paris (tiếng Pháp: Université de Paris) ra đời vào nửa sau thế kỷ 12 nhưng năm 1970 được tổ chức lại thành 13 trường đại học độc lập (Đại học Paris I–XIII). Đại học Paris thường được gọi là Sorbonne hay La Sorbonne theo tên học viện (Collège de Sorbonne) thành lập từ năm 1257 bởi Robert de Sorbon. Tuy nhiên xét theo niên đại thì Đại học Paris có lâu đời hơn học viện Sorbonne, và Sorbonne chỉ là một thành phần của Đại học Paris. Trong số 13 trường thì các trường I-IV nằm trong phạm vi của trường Sorbonne cổ nhưng chỉ có ba trường dùng tên "Sorbonne" trong danh xưng.
Mười ba trường đại học trên thực tế là 13 trường độc lập. Một số trường là trường phụ thuộc Học viện Creteil và Học viện Versailles nhưng về mặt hành chánh chung nhau một viện trưởng tức là Viện trưởng Học viện Paris (Académie de Paris). Viên chức này tính đến năm 2006 là Maurice Quénet. Ông là Viện trưởng Học viện Paris, kiêm Viện trưởng Đại học Paris. Phó Viện trưởng Đại học Paris là Pierre Gregory[1][2].
Đại học Paris xưa nay vẫn là một trong những trường đại học nổi tiếng và danh giá nhất thế giới. Trường đã đào tạo được nhiều người đoạt Giải Nobel cũng như nhiều nhà lý thuyết chính trị, khoa học, thần học và nghệ thuật xuất chúng theo truyền thống Pháp.
Tổng số sinh viên ghi danh theo học ở Đại học Paris là 336.000.
[sửa] Danh mục 13 trường
- Đại học Paris I - Panthéon-Sorbonne
- Đại học Paris II - Panthéon-Assas
- Đại học Paris III - Sorbonne Nouvelle
- Université Paris IV - Paris-Sorbonne
- Đại học Paris V - Descartes
- Đại học Paris VI - Pierre et Marie Curie
- Đại học Paris VII - Denis Diderot
- Đại học Paris VIII - Vincennes-Saint-Denis
- Université Paris IX - Paris-Dauphine
- Đại học Paris X - Nanterre
- Đại học Paris XI - Paris Sud
- Đại học Paris XII - Paris-Val-De-Marne
- Đại học Paris XIII - Paris Nord
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |