Địa lý nhân văn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Địa lý nhân văn (tiếng Anh là: humanistic geography, humanist geography) là một phương pháp nghiên cứu, cũng là một trong hai phân nhánh chính phát triển từ môn khoa học địa lý nghiên cứu về con người, là sự mở rộng của ngành địa lý hành vi, chú trọng vào những hoạt động và quy luật mà không gian địa lý chi phối nhận thức, ý thức và hoạt động sáng tạo của con người. Địa lý nhân văn nghiên cứu cách thức con người liên hệ với không gian, môi trường vật lý và môi trường xã hội mà họ sống trong đó, ý nghĩa của không gian đối với đời sống cũng như những quy ước xã hội (ngầm) chi phối cộng đồng trong các mối liên hệ và giao tiếp trao đổi.[1]

Ngành địa lý nhân văn đang mở ra cơ hội cho thế hệ trẻ một con đường mới tự thực hiện các nghiên cứu của mình và khả năng tự giác ngộ kiến thức trong quá trình nghiên cứu.[2]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Trường phái nghiên cứu địa lý nhân văn xuất hiện ở môi trường nghiên cứu xã hội học Mỹ trong khoảng những năm 1970 và được dán nhãn là "nhìn nhận rộng về khái niệm con người và những hành động của họ". Giáo sư địa lý người Mỹ gốc Trung Quốc Đoạn Nghĩa Phu (Tuan Yi-Fu) hiện là người nghiên cứu sâu và rộng về ngành địa lý nhân văn, gắn với hai khái niệm về cảm giác của con người trước không gian: Topophilia (mang nghĩa tích cực) và Topophobia (mang nghĩa tiêu cực).

Ý tưởng về địa lý nhân văn được biết đến lần đầu tiên qua khái niệm Geosophy, địa triết, ghép từ "ge" (tiếng Hy Lạp, nghĩa là "Trái Đất") và "sophia" (tiếng Hy Lạp, nghĩa là "Trí tuệ") do giáo sư John Kirtland Wright (1891 – 1969) đưa ra vào năm 1947. Geosophy – nghiên cứu cảm giác của con người (Whittlesey) và cách họ sáng tạo và tưởng tượng về không gian (McGreevy, 1987) - quan tâm đến địa lý từ mọi góc độ, từ địa sử học đến lịch sử, từ quá khứ đến hiện tại. Do đó, Geosophy còn được hiểu là có ý nghĩa tương đồng với "nghiên cứu bí ẩn trái đất" (Earth mysteries) trên niềm tin văn hóa và tôn giáo của con người về thế giới xung quanh họ.

Địa lý nhân văn thấu hiểu thế giới con người thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa con người và môi trường sống, ý nghĩa những hành vi của con người trước tự nhiên, những cảm xúc, ý tưởng liên hệ với không gian và nơi chốn. Đồng thời, nhấn mạnh đến nhận thức, sự sáng tạo, niềm tin và kinh nghiệm của con người trong quá trình phát triển thái độ thích nghi với môi trường sống. Chẳng hạn như quá trình tìm hiểu nguyên nhân và ý nghĩa triết lý của việc dân cư từ khắp các vùng của Việt Nam sau một thời gian sống và làm việc ở Sài Gòn/Thành phố Hồ Chí Minh đều mang tính cách của "người Sài Gòn". [cần dẫn nguồn] Như vậy, ngành địa lý nhân văn không chấp nhận cách giải thích một chiều theo thuyết hành vi.

Topophilia[sửa | sửa mã nguồn]

Mô tả trạng thái con người có tình cảm yêu thương gắn bó với một địa điểm cụ thể, như làng quê thuở ấu thơ, thông thường liên quan đến cảm giác về vẻ đẹp của nơi chốn hoặc rất nhiều những khía cạnh khác từ vẻ đẹp thiên nhiên bên ngoài tới không gian bên trong ngôi nhà thông qua kỷ niệm, niềm tự hào sở hữu, sự sáng tạo hay những sản phẩm vô hình và hữu hình mà nơi chốn đem lại, là mối liên hệ hai chiều giữa con người và không gian sống của họ.

Topophobia[sửa | sửa mã nguồn]

Mô tả trạng thái chối bỏ, sợ hãi với địa điểm ví dụ như là nơi mà một sự kiện tồi tệ, có tác động xấu, nặng nề đã xảy ra.

Phương pháp và kỹ năng nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý nhân văn ứng dụng phương pháp nghiên cứu định tính. Ngoài ra, có thể sử dụng phương pháp dân tộc ký của ngành nhân học khi thu thập dữ liệu nghiên cứu.

Nhà nghiên cứu trong lĩnh vực địa lý nhân văn cần có những kiến thức cơ bản về địa lý vật lý, động vật học để có cái nhìn tổng thể hơn, tránh những ấn tượng cá nhân về vùng đất nghiên cứu. Quan trọng hơn, người nghiên cứu cần có kỹ năng viết và sử dụng tốt ngôn ngữ trong giao tiếp, có khả năng hiểu được ý nghĩa ẩn chứa trong văn bản hoặc lời nói. Ngoài ra, sự hứng thú với triết học và khả năng biết ứng dụng những lý thuyết triết học phù hợp với mục đích nghiên cứu cũng là một điều kiện không kém phần quan trọng đối với một nhà địa lý nhân văn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Yi-Fu Tuan, Dear Colleague, 2004.
  2. ^ Humanist Geography: An Individual's Search for Meaning, Yi-Fu Tuan.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]