Đỗ Chu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đỗ Chu là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng thuộc thế hệ các tác giả trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 2012.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà văn Đỗ Chu tên thật là Chu Bá Bình, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1944 tại xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.[1] Ông học cấp III trường Hàn Thuyên (Bắc Ninh) đầu những năm 1960. Lúc đó Đỗ Chu đã có bài Ao làng in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ông đã học qua trường bồi dưỡng viết văn Hội Nhà văn Việt Nam khóa II (1965). Vào năm 1966, Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân tổ chức trại viết các gương điển hình trong chiến đấu chống Mỹ. Đỗ Chu được giao phụ trách trại, viết về liệt sỹ Phan Đăng Cát rồi anh viết truyện ngắn Phù sa, làm cuốn sách cùng tên. Trước đó anh có 3 truyện đã in chung cùng hai tên tác giả khác: Trúc Hà, Văn Ngữ trong tập Hương cỏ mật.[2]

Ông từng là lính cao xạ thuộc quân chủng Phòng không - Không quân những năm chống Mỹ. Viết truyện ngắn từ khi còn là học sinh trường phổ thông trung học Hàn Thuyên (Bắc Ninh). Hai mươi tuổi đã được nhiều người biết đến với các truyện ngắn nổi tiếng đương thời như: Thung lũng cò, Hương cỏ mật, Chiến sĩ quân bưu... Năm 1975 ông chuyển ngành sang công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam. Giống các nhà văn Chu Lai, Nguyễn Văn Linh...ông đã sống và viết nhiều trong quân ngũ.. Đỗ Chu từng là Trưởng ban Nhà văn Trẻ khóa VI.

Ông là nhà văn thành công trong thể loại truyện ngắnbút ký văn học với những tác phẩm đã đi vào lòng bạn đọc nhiều thế hệ. Phần lớn tác phẩm của ông đều lấy đề tài từ các làng quê, đạo lý của con người và phong tục tập quán dân tộc...Về mảng tuỳ bút ở Việt Nam, tài năng của ông được đánh giá là chỉ sau Nguyễn Tuân.[3]

Tác phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hương cỏ mật (tập truyện ngắn, 1963)
  • Phù sa (tập truyện ngắn, 1966)
  • Tháng Hai (tập truyện ngắn, 1969)
  • Trung du (truyện ngắn, 1967)
  • Gió qua thung lũng (truyện ngắn, 1971)
  • Vòm trời quen thuộc (truyện ngắn, 1969)
  • Đám cháy trước mặt (truyện ngắn, 1970)
  • Những chân trời của các anh (tùy bút, 1990)
  • Mảnh vườn xưa hoang vắng (truyện ngắn, 1989)
  • Một loài chim trên sóng (truyện ngắn, 2001)
  • Đỗ Chu truyện ngắn tuyển tập (2003)
  • Tản mạn trước đèn (2004)...[1]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Những lời khen của các bậc đi trước là nguồn động viên rất quý, nhưng bản thân chuyện đó trước sau vẫn chỉ là động viên mà thôi. Các nhà văn, người cầm bút trở thành vững chãi đều phải qua một giai đoạn dài từng trải, vừa học hỏi vừa sáng tạo một cách công phu, ai tính chuyện đi tắt, mưu mẹo vặt, toan bỏ qua chuyện đó thì trước sau gì đều cũng sẽ lụi. Cụ Đỗ Phủ đời Đường từng nói: "Vinh hoa địch huân nghiệp/ Tuế mộ hữu nghiêm sương" có nghĩa rằng, anh hưởng cái vinh hoa quá đáng so với những công lao đóng góp thì rồi ra về già ắt sẽ phải chịu nhiều sương giá.[3]

"Viết nhiều là quý nhưng phải hay. Viết nhiều mà không hay thì thà viết ít, thậm chí đừng viết nữa. Dấu hiệu của tài năng còn là ở chỗ tự biết mình đến lúc nào không hay thì thà viết ít, thậm chí đừng viết nữa. Biết điều thì xin vào ngồi ở một tòa soạn, một nhà xuất bản nào đó, kiếm lấy một cái ghế để yên thân"

Đỗ Chu nói: Làm báo là phải cập nhật, viết văn thì phải dài dài… phần lớn người viết văn bây giờ phải viết báo cho nên gì thì gì nhớ là khi ra sách phải có văn chương, không thì vứt…".

"Phải mất hàng năm, không thể không đọc một nhà văn như ông (Tô Hoài) này. Đấy là nhà chép sử biên niên nước nhà, kể từ tiền khởi nghĩa, có sức vóc "cử đỉnh" trong văn học Việt Nam thế kỷ hai mươi. Người ta hay nhắc đến những trang viết miền núi của Tô Hoài, tất nhiên là hay, nhưng thực ra phần chính yếu của ông là viết về Hà Nội trước và sau Cách mạng Tháng Tám. Giữa các cụ xuất chúng ông già này cứ lầm rầm đi, lầm rầm làm việc nhưng sẽ là người về sau cùng, trên vai là một gánh sách có ý nghĩa tập đại thành...Nhiều anh thích ầm ĩ quá, trong khi sự tự vượt mình chỉ có thể làm được trong im lặng sống và sáng tạo".

"Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Vàng Anh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Tư… và rất nhiều người nữa đều đã có những đóng góp đáng kể, tôi hy vọng sự chững lại của họ mấy năm gần đây chỉ là một sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn để có những bước vạm vỡ trong thời gian tới". Chẳng qua đời mỗi chúng ta cũng giống như con chim gì đang nhảy nhót chấp chới trên ngọn sóng. Chỉ có ai lênh đênh ngoài khơi thì mới gặp loài chim ấy. Chẳng hiểu chúng đậu vào đâu mà sống nổi, và nhờ đâu chúng vẫn cất tiếng hót giữa trùng trùng sóng gió. Kiếp người tưởng vậy mà nào có khác nhau là bao. Tôi vẫn thấy có tiếng hát của em, tiếng gọi của chị trong mỗi ngày sống của mình. (Một loài chim trên sóng).[2]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

"Đỗ Chu giống như cây quế trong rừng, ai dám bảo cây quế không quý" (Đỗ Chu như cây quế, thơm từ vỏ thơm vào) (Nhận xét của Nguyễn Minh Châu về đặc trưng của văn Đỗ Chu thời trẻ) [2][3]

Theo VĂN CHINH: Đỗ Chu nổi tiếng từ thời còn đang học phổ thông với truyện ngắn Hương cỏ mật của ông đăng ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1963 làm xao xuyến văn đàn. Khi đó, các nhà văn lớn về sau như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu còn đang chập chững vào nghề một cách vất vả, vô cùng vất vả. Có lẽ vì vậy, tôi chưa thấy ông phục ai trong thế hệ mình trở xuống về truyện ngắn, trừ hai người.

Người thứ nhất là Phạm Thị Minh Thư, khi cô nhà văn trẻ này đến nhận Giải nhất của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Đỗ Chu đã cầm vại bia đi từ phía bên kia của dãy bàn, đến trước chỗ cô tân khoa ngồi, vẫn ngón tay cái cầm vại bia, đốt ngón tay cái trên cùng cong vắt lại chỉ vào ngực mình, nói:

- Đây là Đỗ Chu

Gặp nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư (khi ấy Tư chưa có Cánh đồng bất tận) ở Hội nghị Nhà văn Trẻ mươi năm trước ở Khách sạn La Thành Hà Nội, ông cũng cầm vại bia y như thế đến trước mặt Tư, đốt ngón tay cái trên cùng cong vắt lại, chỉ vào mình, nói:

- Đây là Đỗ Chu

Đấy là cách những tài năng ra mắt nhau, không chúc tụng, không vồn vã, không sấn vào chụp ảnh với người đang nổi tiếng, nhưng rất trọng thị. Cách trọng thị của người có thể suồng sã với tất cả, trừ văn chương... Nếu khái niệm nhà văn chuyên nghiệp, ngoài tài năng và lượng bạn đọc lớn, nhất thiết phải có nội hàm chuyên nghiệp viết, thì ở nước Nam ta, Đỗ Chu là thứ nhất, rồi sau mới đến Nguyễn Mạnh Tuấn và Nguyễn Nhật Ánh. Cả đời Đỗ Chu không làm gì, ngoài viết văn. Hồi xóa bao cấp đến độ gay gắt, có người mách với lãnh đạo Hội, rằng Đỗ Chu chơi hơi kỹ, cho nghỉ hưu non bây giờ thì cơ quan giảm được một người. Ông Nguyễn Khoa Điểm bảo, Hội Nhà văn thì phải có người như Đỗ Chu đi ra đi vô, nó mới thành ra Hội. Chứ không thì thành ra trụ sở doanh nghiệp hay hợp tác mất... Thật khó diễn tả với bạn đọc trẻ hôm nay về cái sức mạnh làm xao xuyến tâm hồn của cả một đất nước của văn Đỗ Chu cách đây gần 40 năm. Bấy giờ bom đạn ùng oàng, chỗ này người chết kẻ bị thương, chỗ kia cầu sập nhà đổ, chỗ kia nữa tiễn đoàn quân ra trận, những tiếng khóc, những giọt nước mắt công khai và bí mật. Cả xã hội lo âu và căm giận. Có thể nói ngút trời đạn bom và ngút trời căm giận. Đúng lúc ấy thì một giọng văn thiết tha đằm thắm cất lên, nó cất lên một cách sang trọng. Giọng văn ấy là Đỗ Chu... Nếu như thời chiến tranh và bao cấp, hầu như giao thừa nào Đài Tiếng nói Việt Nam cũng phát một thiên bút ký hay tùy bút Đỗ Chu, thì đúng là Đài đã không nhầm, thể văn này ở ta, ngoài Nguyễn Tuân, còn có Hoàng Phủ Ngọc Tường nhưng xem ra ông này cũng khó sánh với Đỗ Chu ở cả tầm vóc lẫn bề dầy, bề dài suốt gần 40 năm qua. Tùy bút Đỗ Chu khiến văn hóa Đại Việt sống động dậy trong những con người cụ thể, cứ như cái hồn nông thôn cũ đã chọn những người ấy mà khu trú, mà nương náu để cho qua thời tao loạn, lộn xộn mới thong thả bước ra, đi duyên dáng và thật sang trọng giữa đời đang lắm bức sốt và ngột ngạt... Nhà văn Nguyễn Minh Châu bảo Đỗ Chu như cây quế, thơm từ vỏ thơm vào. Thật đúng. Nhưng chợt đến đổi mới thì ông đã nằm xuống nên Nguyễn Minh Châu chưa được đọc chùm truyện ngắn về sau của Đỗ Chu, nó là lõi của văn vậy! (theo VĂN CHINH) [3]

Theo NGUYỄN THANH KIM: Anh là một nhà văn sớm thành đạt mà cũng không ít trăn trở, vật vã, day dứt băn khoăn. Đỗ Chu không chịu bằng lòng với những gì đã có cho dù những gì đã có của anh vẫn là mơ ước của nhiều người khác...Không biết do "ma lực" nào ốp mà Đỗ Chu viết khỏe vậy. Một anh lính trẻ gầy nhàng nhàng, đôi mắt sáng, bàn tay lúc nào cũng ướt đẫm mồ hôi mà sức viết lại dồi dào. Có một nhà văn đã từng nói với tôi: "Đỗ Chu bức xúc thì nói ra mồm, nhưng văn hắn kỹ càng". Nghe Đỗ Chu thì phải nghe cả hai tai. Đỗ Chu là người có tâm, nói thì đôi khi "tào lao" nhưng những điều anh nói nếu "chịu nghe" thấy cũng chí lý... Sinh thời nhà văn Nguyễn Minh Châu từng nói: "Đỗ Chu giống như cây quế trong rừng, ai dám bảo cây quế không quý". Nhưng có lẽ điều đó chỉ là đặc trưng của văn Đỗ Chu thời trẻ. Những năm ấy, Đỗ Chu vẫn chưa có đủ cái sâu sắc, đau đáu trải nghiệm... Trước đó văn học Việt Nam đã có một Nguyễn Tuân dày dặn kiến văn mà hết mực tài hoa nhưng khi ta đọc Đỗ Chu thấy tùy bút của anh gần gũi kiếp nhân sinh với những triết lý của trải nghiệm đời sống "Một nhân gian rất thật mà cũng rất ảo, thực thực mơ mơ. Một thế giới trong đó hết thảy đang phơi bày, hết thảy đang được lột trần, đó là những thách thức, những nguồn cảm hứng lớn đặt ra trước các nhà văn, trước những ai mang sứ mệnh sáng tạo"... Gần đây tôi đến thăm Đỗ Chu ở khu chung cư Đội Nhân (Hà Nội) có nghe anh tâm sự: "Kim này, nhờ giời anh em mình có dăm ba chữ để sống với đời. Chịu khó viết lấy ít trang cho hẳn hoi, mà cũng chớ có quá ảo tưởng về mình, không khéo mà thành vớ vẩn cả, thì khổ". Một nhà văn đã vào tuổi bảy mươi có thành đạt trong văn chương mà còn thấy như vậy thì kể cũng là đáng trọng. Ngẫm ra, khả năng tự biết mình, dám vượt mình, là một phẩm chất không thể thiếu với những ai muốn đi xa… (NGUYỄN THANH KIM) [2]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]