Bồ công anh Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bài này nói về loài cây có tên bồ công anh thuộc chi Pterocypsela. Xem nghĩa khác tại trang Bồ công anh.
Pterocypsela indica
Akinog 1.jpg
Bồ công anh Việt Nam
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Asterales
Họ (familia) Asteraceae
Chi (genus) Pterocypsela
Loài (species) P. indica
Danh pháp hai phần
Pterocypsela indica
(L.) C.Shih (1988)[1]
Danh pháp đồng nghĩa

[2] Lactuca indica L.
Lactuca indica f. indivisa (Maxim.) H. Hara
Lactuca indica f. runcinata (Maxim.) Kitam.
Brachyramphus sinicus
Lactuca amurensis
Lactuca brevirostris
Lactuca cavaleriei
Lactuca kouyangensis
Lactuca squarrosa
Leontodon acutissimus
Prenanthes longifolia

Sonchus engleri

Bồ công anh hay rau bồ cóc, diếp hoang, diếp dại, mót mét, mũi mác, diếp trời, rau mũi cày (danh pháp hai phần: Pterocypsela indica) là một loài cây thân thảo thuộc họ Cúc (Asteraceae), sống một năm hoặc hai năm, không lông. Thân cao 60–200 cm, đơn hoặc chẻ nhánh ở phần trên. Các lá phía dưới không lông; thuôn dài hay hình mũi mác, kích thước 13-25×1,5–11 cm, đỉnh lá nhọn, không cuống hay cuống ngắn, mép lá nhẵn hoặc xẻ thùy hoặc răng cưa thô to, mặt trên xanh lục, mặt dưới xanh xám. Các lá ở phần giữa dài 10–24 cm, thẳng hay mũi mác, nhọn đỉnh, không xẻ thùy, mép lá có khía răng cưa. Các lá trên nhỏ hơn và thẳng. Cụm hoa kiểu chùy hình trụ hẹp, dài 20–40 cm. Đầu cụm hoa rộng khoảng 2 cm; cuống dài 10–25 mm, mọc thẳng. Tổng bao hình trụ, kích thước 10-13×5–6 mm, các lá bắc không lông, màu tía, các lá ngoài hình trứng, dài 2–3 mm, các lá trong hình trứng-mũi mác, các lá bắc tận trong cùng khoảng 8, hình mũi mác. Chiếc hoa 21-27, màu vàng nhạt, kích thước 12-13×2 mm. Quả bế hình elip, phẳng, màu đen, kích thước 4-4,5×2,3 mm; mỏ dài 1-1,5 mm, 1-gân ở mỗi bên. Mào lông màu trắng, dài 7–8 mm. Số nhiễm sắc thể 2n = 18 (Peng & Hsu, 1978).

Phân bổ[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Nam Á, Ấn Độ, đông Siberi, Nhật Bản và miền nam Trung Quốc, Đài Loan. Thường mọc hoang dại ven đường, các sườn đồi nhiều nắng, ở cao độ từ thấp tới trung bình. Ít được trồng. Có hai dạng là indivisa (được trồng với lá thẳng-mũi mác, không xẻ thùy) và runcinata với lá thuôn dài, xẻ thùy sâu hình lông chim.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, bồ công anh là một vị thuốc dân gian để chữa bệnh sưng vú, tắc tia sữa, mụn nhọt đang sưng mủ, hay bị mụn nhọt, đinh râu. Còn dùng uống trong chữa bệnh đau dạ dày, ăn uống kém tiêu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]