Billy Connolly

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Billy Connolly

Connolly năm 2005
Tên khi sinh William Connolly, Jr.
Sinh vào 24 tháng 11, 1942 (71 tuổi)
Anderston, Glasgow, Scotland
Medium Tấu hài, truyền hình, điện ảnh
Quốc tịch Scotland[1]
Năm hoạt động 1965 đến nay
Thể loại hài Observational comedy, Musical comedy
Ảnh hưởng đến Chic Murray, Dave Turner[2]
Ảnh hưởng bởi Eddie Izzard, Ross Noble, Michael McIntyre, Jason Manford, Bill Bailey, Tim Vine, Jimmy Carr, Ronnie Golden, Russell Howard, Craig Ferguson, Stewart Lee, Chris Addison, Kevin Bridges.
Vợ hoặc chồng Iris Pressagh (1969–1985, ly hôn)
Pamela Stephenson (1989 đến nay)
Website BillyConnolly.com
Bản mẫu:Infobox comedian awards

William "Billy" Connolly, Jr., (sinh 24/11/1942) là một diễn viên hài, nhạc công Scotland. Đôi khi, đặc biệt ở quê hương Scotland, ông được biết đến với tên 'The Big Yin' ('The Big One').[3] Công việc đầu tiên của ông vào đầu thập niên 1960 là làm thợ hàn (đặc biệt là thợ nồi hơi) ở các xưởng đóng tàu Glasgow nhưng sau này ông đã bỏ các công việc này vào cuối thập kỷ để theo đuổi nghề ca sĩ nhạc dân ca ở Humblebums và sau đó là người hát solo. Đầu thập niên 1970s, ông chuyển đổi từ ca sĩ hát nhạc dân ca diễn xuất hài hước thành viên hài chính thức.

Connolly cũng là một diễn viên, và đã xuất hiện trong các phim như Indecent Proposal (1993); Muppet Treasure Island (1996); Mrs. Brown (1997), for which he was nominated for a BAFTA; The Boondock Saints (1999); The Man Who Sued God (2001); Water (1985); The Last Samurai (2003); Timeline (2003); Lemony Snicket's A Series of Unfortunate Events (2004); Garfield: A Tail of Two Kitties (2006); Open Season (2006); The X-Files: I Want to Believe (2008); vàOpen Season 2 (2008). Connolly đã diễn lại vai Noah "Il Duce" MacManus trong The Boondock Saints II: All Saints Day. Connolly đóng vai vua của Lilliput trong phim đóng lại 2010 Gulliver′s Travels.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Connolly sinh ở 69 Dover Street[4] ("trên vải sơn lót sàn, ba tầng lên"[5] "hồi 6 giờ vào buổi tối")[4] tại Anderston, Glasgow, cha là William Connolly và mẹ là Mary "Mamie" (McLean) Connolly, một công nhân quán tự phục vụ bệnh viện. Ông của Connolly là người nhập cư Ai Len.[6][7][8] Năm 1946, khi cậu bé chỉ vừa bốn tuổi, mẹ của Connolly bị bỏ rơi con của bà khi cha ông còn trong quân đội. Connolly và em gái của mình, Florence, được chăm sóc bởi hai bà cô, Margaret và Mona Connolly, chị em của cha mình. Tiểu sử của ông, được viết bởi vợ Pamela Stephenson, ghi chép lại những năm bị lạm dụng tình dục bởi cha của mình, bắt đầu từ khi cậu lên 10 và kéo dài cho đến khi ông là khoảng mười lăm[9].

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gardham, Magnus. “Labour leadership contender Tom Harris calls on Big Yin Billy Connolly to lead campaign to keep Scotland in Britain”. Daily Record (Glasgow). Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2011. 
  2. ^ “Dave Turner : Obituary”. This is Nottingham. Northcliffe Media Ltd. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2011. 
  3. ^ Stephenson, Pamela. Billy, HarperCollins, 2001
  4. ^ a ă “William Connolly on CNN's ''Revealed''”. Edition.cnn.com. 16 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2011. 
  5. ^ World Tour of Scotland (1994), Connolly, Billy
  6. ^ “Billy Connolly Biography (1942-)”. Filmreference.com. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2011. 
  7. ^ Stevenson, Pamela (23 tháng 9 năm 2001). “Billy Connolly: The early years”. The Guardian (London). Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010. 
  8. ^ “Biographical Notes”. Comedy-zone.net. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2007. 
  9. ^ "Billy Connolly reveals childhood abuse" - BBC website, 23 September 2001

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]