Bo bo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bo bo
Coix lacryma-jobi1.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Monocots
(không phân hạng) Commelinids
Bộ (ordo) Poales
Họ (familia) Poaceae
Phân họ (subfamilia) Panicoideae
Tông (tribus) Andropogoneae
Chi (genus) Coix
Loài (species) C. lacryma-jobi
Danh pháp hai phần
Coix lacryma-jobi
L.
Danh pháp đồng nghĩa
Coix agrestis Lour.
Coix arundinacea Lam.
Coix exaltata Jacq.
Coix lacryma L.

Bo bo hay ý dĩ hoặc cườm thảo (danh pháp khoa học: Coix lacryma-jobi), là một loài thực vật nhiệt đới thân cao để lấy hạt trong họ Hòa thảo (Poaceae), có nguồn gốc Đông ÁMalaysia bán đảo nhưng được gieo trồng ở nhiều nơi trong ruộng, vườn như là một loại cây một năm. Nó đã hợp thủy thổ tại miền nam Hoa Kỳ và khu vực nhiệt đới Tân thế giới. Tại Hoa Kỳ nó được gọi là Job's tears. Đây là một loài cây lương thực khá phổ biến, nhưng được bày bán một cách sai lạc dưới tên gọi Chinese pearl barley (mạch trân châu Trung Hoa) tại một số siêu thị châu Á, mặc dù trên thực tế C. lacryma-jobi không nằm trong cùng một chi với lúa mạch (Hordeum vulgare).

Bo bo ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam có ba giống bo bo:

  • Bo bo tẻ (C. lacryma-jobi var. stenocarpa); hạt bo bo tẻ sắc trắng, lớn hạt thường trồng làm thức ăn.
  • Bo bo cườm (C. lacryma-jobi var. puellarum); giống này nhỏ hạt lại rất cứng, không dùng ăn mà chỉ dùng xâu hạt làm chuỗi, kết mành, v.v.
  • Bo bo nếp (C. lacryma-jobi var. ma-yuen); giống này lớn hạt, róc vỏ, và được coi là quý nhất. Tương truyền Mã Viện đã đem hạt này từ Giao Chỉ sang Trung Hoa gây giống.[1]

Vào những năm Mỹ leo thang ném bom miền Bắc Việt Nam, barley bắt đầu được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhập từ nước ngoài về để bán độn thay gạo suốt cho cả đến sau khi hai miền Việt Nam thống nhất. Tuy cũng được gọi là bo bo nhưng barley không phải hạt này mà là một loại hạt giống như hạt lúa mì, nhưng kém dinh dưỡng hơn, có thể nấu như nấu cơm được, trong khi lúa mì thì không thể nấu ăn như vậy được.[cần dẫn nguồn]

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Hạt bo bo khi chín được bao bọc trong cấu trúc hình ôvan màu trắng trân châu và rất cứng. Nó được xài như là các chuỗi hột trang sức để làm chuỗi tràng hạt, chuỗi hạt và các vật dụng khác. Một số thứ được thu hoạch như là một loại ngũ cốc và cũng được sử dụng trong y học tại một vài nơi tại châu Á.

Từ nguyên học[sửa | sửa mã nguồn]

Bo bo được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau:

Thành phần hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Hạt chứa cacbohydrat, protit, lipit và các axít amin như leucin, lysin, arginin, tyrosin…, coixol, coixenolid, sitosterol, dimethyl glucozit.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Triều Tiên, loại đồ uống đậm đặc gọi là yulmu cha (율무차, nghĩa văn chương "trà ý dĩ") được làm từ bột bo bo. Một loại đồ uống tương tự, gọi là ý mễ thủy (薏米水), cũng có trong ẩm thực Trung Hoa, và được làm bằng cách đun sôi các hạt bo bo đã chuốt bóng trong nước và được làm ngọt bằng đường để có một loại chất lỏng đục như mây. Hạt thông thường được lọc ra khỏi chất lỏng, nhưng cũng có thể được ăn cùng với nước hoặc riêng rẽ.

Ở cả Triều Tiên và Trung Quốc, một loại rượu mùi chưng cất cũng được làm từ bo bo.

Y học[sửa | sửa mã nguồn]

Nó cũng được sử dụng cùng với các loại cây thuốc khác trong y học cổ truyền Trung Hoa và các nước lân cận dưới tên gọi ý dĩ.

Thuốc bồi dưỡng cơ thể do có hàm lượng protit và lipit cao. Chữa viêm ruột và ỉa chảy kéo dài ở trẻ em, phù thũng, sỏi thận, tê thấp, nhức mỏi chân tay: ngày 10-30g dạng thuốc bột hoặc thuốc sắc.

Chữa bệnh và phương pháp làm[sửa | sửa mã nguồn]

- Trị răng đau, răng sâu: bo bo, cát cánh, nghiền nát thành bột nhuyễn, nhét vào chỗ răng đau.

- Trẻ em rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy kéo dài, đái đục: Hạt bo bo 12g, hoài sơn đồ sao 10g tán bột, cho ăn mỗi lần 6-7g hòa với nước cơm, ngày ăn 2-3 lần.

- Tiêu chảy mạn tính: Hạt bo bo sao vàng 50g, hạt sen sao vàng 40g, sa nhân 5g. Tất cả đem tán bột mịn, ngày uống 2-3 lần với nước cơm, mỗi lần 10-15g.

- Phụ nữ khí hư, bạch đới: Hạt bo bo sao vàng 20g, rễ cây bấn trắng 20g sao vàng. Sắc uống ngày một thang.

- Tê thấp, đau lưng, mỏi khớp: Hạt bo bo sao vàng 30g; thổ phục linh, cẩu tích, tỳ giải đều 20g. Sắc uống ngày một thang.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyen Van Duong. Medicinal Plants of Vietnam, Cambodia and Laos. Santa Monica, CA: Mekong Printing, 1993. Trang 189-90.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]