Công nghiệp dược phẩm
Công nghiệp dược phẩm phát triển, sản xuất và tiếp thị các thuốc có bản quyền nhằm sử dụng trong điều trị. Các công ty dược có thể sản xuất thuốc brand name hoặc generic. Các dược phẩm này nhắm vào sự khác nhau của những luật và những qui định về bản quyền, kiểm nghiệm và tiếp thị thuốc.
Lịch sử [sửa]
Những hiệu thuốc đầu tiên ra đời vào thời kỳ Trung Cổ. Các dược sĩ người Arab mở hiệu thuốc đầu tiên ở Baghdad vào năm 754,[1] và nhiều cửa tiệm khác đi vào hoạt động trong suốt thế giới Hồi giáo trung cổ và tại Châu Âu Trung Cổ. Đến khoảng thế kỷ 19, nhiều hiệu thuốc ở Châu Âu và Bắc Mỹ đã phát triển mở rộng thành các công t dược phẩm lớn hơn.
Hầu hết trong số các công ty dược phẩm lớn ngày nay được sáng lập vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Những khám phá quan trọng của thập niên 1920 và 1930, ví dụ như insulin và penicillin, được sản xuất trên quy mô lớn và phân phối khắp mọi nơi. Thụy Sỹ, Đức, Ý sở hữu ngành công nghiệp dược phẩm đặc biệt hùng mạnh, với sự theo sau của Hoa Kỳ, Anh, Bỉ và Hà Lan.
Pháp chế dược được ban hành nhằm kiểm tra và phê chuẩn các dược phẩm đồng thời yêu cầu dán nhãn thích hợp. Khi ngành công nghiệp phát triển toàn diện, thuốc kê toa và không kê toa được phân biệt và quy định kỹ bằng luật. Từ những năm1950, ngành này phát triển mạnh mẽ và nghiêm chỉnh dựa trên những tiến bộ về phương pháp nghiên cứu khoa học có hệ thông, sự hiểu biết về sinh học con người (bao gồm DNA) và nhiều kỹ thuật sản xuất phức tạp.
Nhiều thuốc mới được phát triển trong suốt những năm 1950 và sản xuất trên quy mô lớn cũng như tiếp thị trong suốt những năm 1960 như thuốc tránh thai đường uống đầu tiên, "The Pill", Cortisone, thuốc huyết áp và các thuốc tim mạch khác. Các chất ức chế men MAO , chlorpromazine (Thorazine), Haldol (Haloperidol) và các thuốc an thần mở ra kỷ nguyên điều trị tâm thần. Valium (diazepam), được phát minh năm 1960 và tiếp thị năm 1963 đã nhanh chóng trở thành thuốc được kê toa nhiều nhất trong lịch sử trước khi đối mặt với nhiều tranh cãi về tính lệ thuộc thuốc.
Các chính phủ và cơ quan tương đối mới là U.S. Food and Drug Administration (FDA) đã có nhiều nỗ lực gia tăng các luật lệ nhằm hạn chế mối liên hệ tài chính giữa công ty dược và các bác sĩ kê toa. Các buổi triệu tập gia tăng vào thập niên 1960 sau khi bi kịch thalidomide được đưa ra ánh sáng. Nhiều phụ nữ có mang dùng thuốc an thần mới này đã sinh con với nhiều khuyết tật bẩm sinh nghiêm trọng. Năm 1964, Hiệp Hội Y Học Thế Giới đã đưa ra Declaration of Helsinki cho phép thiết lập các tiêu chuẩn nghiên cứu lâm sàng và yêu cầu phải được tiết lộ thông tin hoạt chất đầy đủ trước khi đăng ký thử nghiệm. Các công ty dược cũng cần phải chứng minh tính hiệu quả trong thử nghiệm lâm sàng trước khi đưa vào thị trường.
Các thuốc ung thư được phát minh những năm 1970. Từ năm 1978, Ấn Độ vươn lên trở thành trung tâm hàng đầu về sản xuất thuốc không có bản quyền.[cần dẫn nguồn]
Vào thập niên 1970, nền công nghiệp dược phẩm quy mô còn tương đối nhỏ, tuy nhiên sau đó đã bắt đầu mở rộng.Bản mẫu:Chú thíchneeded Luật lệ cho phép bảo vệ bản quyền, gồm cả những quy trình sản xuất lẫn các sản phẩm chuyên biệt, đã có hiệu lực ở nhiều quốc gia. Giữa thập niên 1980, các hãng công nghệ sinh học nhỏ đã đấu tranh sinh tồn, dẫn đến việc hình thành mối quan hệ đối tác tương hỗ giữa chúng và các công ty dược lớn hơn. Ông chủ của các công ty dược đã mua lại các hãng nhỏ hơn, ngành dược trở nên tập trung hơn với vài công ty lớn nắm vai trò chủ chốt trên thế giới và cũng chỉ vài công ty sản xuất thuốc tại mỗi quốc gia.
Thập niên 1980, công nghiệp dược chịu sức ép từ nền kinh tế, các luật lệ mới (về an toàn và môi trường) cũng như bị biến đổi bởi ngành hóa học DNA mới và các công nghệ mới về phân tích và vi tính.[cần dẫn nguồn] Các thuốc trị bệnh tim và AIDS được phát minh những năm 1980, liên quan đến những thử thách đối với cơ thể thông thường và quy trình phê chuẩn nhanh hơn.
Các tổ chức duy trì sức khỏe và quản trị chăm sóc (HMOs) lan rộng trong suốt những năm 1980 như là một phần của nỗ lực kiểm soát sự gia tăng giá thành chăm sóc y tế và sự phát triển của điều trị y khoa duy trì và ngăn chặn trở nên ngày càng quan trọng hơn. Một môi trường thương mại mới được hình thành vào thập niên 1990, đặc trưng bởi sự sáp nhập và chiếm quyền kiểm soát, và bởi sự gia tăng dữ dội trong việc sử dụng các tổ chức nghiên cứu trúng thầu trong việc phát triển lâm sàng và thậm chí cho việc R&D cơ bản. Công nghiệp dược đối mặt với không khí kinh doanh mới, luật lệ mới, vốn phát sinh từ việc giải quyết với các thế lực thị trường và sự chống đối của các nhà hoạt động ở các quốc gia đang phát triển. Các quyền dành cho động vật cũng là một trở ngại lớn.
Tiếp thị đã thay đổi rất nhiều trong những năm 1990, một phần do chủ nghĩa tiêu dùng mới.[cần dẫn nguồn] Internet giúp người dùng thuốc có thể mua trực tiếp thuốc, nhà sản xuất cũng mua trực tiếp được nguyên liệu thô. Tại Hoa Kỳ, các quảng cáo trực tiếp đến tay người tiêu dùng tràn ngập trên TV và radio nhờ vào các luật lệ mới của FDA vào năm 1997 đã giúp tự do hóa những yêu cầu cho việc trình bày những nguy cơ. Các thuốc chống trầm cảm, các SSRI, nổi tiếng như Fluoxetine (Prozac), nhanh chóng trở thành thuốc bán chạy nhất và được tiếp thị cho những rối loạn kèm theo.
Sự phát triển của thuốc thúc đẩy bởi phương pháp thử và sai để phân loại phát minh thuốc trong cả thiết kế phòng thí nghiệm lẫn trong các nghiên cứu về sản phẩm tự nhiên. Nhu cầu về các chất dinh dưỡng bổ sung và những thuốc thay thế tương tự tạo nên những cơ hội mới và gia tăng tính cạnh tranh. Những tranh cãi nổi lên về các tác dụng có hại, nổi tiếng như Vioxx tại Hoa Kỳ, và chiến thuật tiếp thị. Các công ty dược càng ngày càng bị buộc tội về việc disease mongering hoặc khoa trương các vấn đề y tế cá nhân hoặc xã hội.[2]
Chú thích [sửa]
- ^ Information taken from the abstract of Hadzović, S (1997). “Pharmacy and the great contribution of Arab-Islamic science to its development”. Medicinski arhiv (bằng Croatian) 51 (1–2): 47–50. ISSN 0350-199X. OCLC 32564530. PMID 9324574.
- ^ Ray Moynihan and Alan Cassels (2005). Selling Sickness: How Drug Companies are Turning Us All Into Patients. Allen & Unwin. New York. ISBN 1-74114-579-1