Căn bệnh Hà Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Căn bệnh Hà Lan là tên gọi một loại nguy cơ kinh tế xảy ra khi đẩy mạnh xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên dẫn tới làm suy giảm ngành công nghiệp chế tạo - một hiện tượng giảm công nghiệp hóa. Thuật ngữ Căn bệnh Hà Lan đôi khi được dùng để chỉ nguy cơ xảy ra khi sự phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài dẫn tới sự suy giảm của nguồn lực trong nước.[1]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ Dutch disease được The Economist đặt ra vào năm 1977 để miêu tả sự suy giảm của khu vực chế tạo của Hà Lan khi nước này đẩy mạnh xuất khẩu khí thiên nhiên. Sau đó, đến năm 1982, hai nhà kinh tế học là W. Max Corden và J. Peter Neary đã mô hình hóa hiện tượng nói trên.[2]

Lý luận[sửa | sửa mã nguồn]

Mô hình cân bằng cục bộ của Corden và Neary dựa trên giả thiết rằng nền kinh tế quốc dân có 2 khu vực xuất khẩu, trong đó 1 khu vực đang bùng nổ là khu vực khai thác tài nguyên và 1 khu vực đang trì trệ (so với khu vực kia) là khu vực chế tạo. Ngoài ra, nền kinh tế còn có 1 khu vực không xuất khẩu. Các giả thiết khác là tổng lực lượng lao động không đổi, nền kinh tế trong trạng thái toàn dụng lao động, và tỷ giá hối đoái danh nghĩa cố định.

Khi các ngành khai thác bùng nổ, lượng cầu về lao động của khu vực này tăng lên, lao động từ khu vực chế tạo sẽ chuyển sang khu vực khai thác tài nguyên làm khu vực chế tạo bị thiếu cung lao động và trở nên suy thoái. Khi thu nhập của người lao động trong khu vực khai thác tài nguyên tăng lên, họ tiêu dùng nhiều hơn khiến cho khu vực không xuất khẩu được kích thích và mở rộng. Khu vực không xuất khẩu sẽ hút lao động từ khu vực chế tạo sang, càng làm cho khu vực chế tạo bị bất lợi. Tiêu dùng các hàng hóa không xuất khẩu tăng còn làm giá cả của các mặt hàng này tăng, khiến cho tỷ giá hối đoái thực tế tăng lên nếu tỷ giá hối đoái danh nghĩa không đổi, gây bất lợi cho xuất khẩu của khu vực chế tạo. Khu vực khai thác tài nguyên đẩy mạnh xuất khẩu cũng làm tương quan lượng cung nội tệ và ngoại tệ trong nền kinh tế thay đổi theo hướng làm tăng tỷ giá hối đoái danh nghĩa, càng cản trở xuất khẩu của khu vực chế tạo.

Sau này De Silva (1991) và Nnadozie (1991) đã mở rộng mô hình lên thành gồm 4 khu vực. Một số nghiên cứu khác đã tìm cách nới lỏng các giả thiết trong mô hình của Corden và Neary, chẳng hạn như giả thiết về toàn dụng lao động.[3]

Tác động[sửa | sửa mã nguồn]

Alan Greenspan (2008) cho rằng căn bệnh Hà Lan chủ yếu xảy ra ở các nước đang phát triển do họ không được chuẩn bị kỹ lưỡng để đối phó. Nhưng ông này cũng cho rằng căn bệnh Hà Lan đã xảy ra ở Anh trong thập niên 1980 và ở Na Uy trong thập niên 1970, ở Nga hiện nay.[4] Thực tế là sự lên giá của Bảng Anh khi có nguồn thu ngoại tệ nhờ xuất khẩu khí đốt đã làm lên giá đồng tiền này khiến cho xuất khẩu nói chung của Anh giảm và làm thâm hụt tài khoản vãng lai tăng dẫn tới sự kiện đầu cơ vĩ mô của George Soros năm 1992 khiến Anh phải quyết định phá giá bảng Anh và không tham gia Cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu nữa. Các nhà kinh tế còn chỉ ra nhiều quốc gia khác có thể đã bị căn bệnh Hà Lan. Tại Việt Nam, nhiều học giả cũng đặt câu hỏi liệu Việt Nam có bị nhiễm căn bệnh Hà Lan hay không trong bối cảnh nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Học giả Huỳnh Thế Du trong một bài viết cho rằng, Việt Nam đã bị nhiễm căn bệnh Hà Lan.[5] Trong đó, ông cho rằng sau khi Việt Nam gia nhập WTO, dòng vốn FDI đổ vào nền kinh tế khá ồ ạt, trong khi khu vực trong nước đã từ bỏ việc tận dụng lợi thế, tập trung cho sản xuất kinh doanh sang đầu cơ tài sản. Chính vì vậy “căn bệnh Hà Lan” đã làm tổn hại nghiêm trọng sức cạnh tranh của khu vực sản xuất, với hậu quả hơn 50 ngàn doanh nghiệp phá sản trong năm 2012.

Để hạn chế tác động của căn bệnh Hà Lan, các nước từng bị căn bệnh này như Na Uy, Nga, Azerbaijan, Kuwait có kinh nghiệm sử dụng nguồn thu từ xuất khẩu tài nguyên để thành lập các quỹ bình ổn.

Căn bệnh Hà Lan chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Lam, Ricky and Wantchekon, Leonard (2003) cho rằng nguồn tài chính từ xuất khẩu tài nguyên đã giúp chính quyền độc tài ở một số nước như Iraq và Libia duy trì lâu hơn. Họ gọi tình trạng này là Căn bệnh Hà Lan chính trị.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ McKinley (2005).
  2. ^ Corden W.M. and Neary J.P. (1982), “Booming Sector and De-industrialisation in a Small Open Economy,” The Economic Journal, No. 92 (December), pp. 825-848.
  3. ^ De Silva (1994).
  4. ^ Greenspan (2008), trang 320.
  5. ^ “Việt Nam đã bị nhiễm Căn bệnh Hà Lan”. 108x. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]