Chất thải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thùng rác tại Seattle.

Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác. Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng.

Quản lý rác thải là hành động thu gom, phân loại và xử lý các loại rác thải của con người. Hoạt động này nhằm làm giảm các ảnh hưởng xấu của rác vào môi trường và xã hội.

Rác liên quan trực tiếp tới sự phát triển của con người cả về công nghệ và xã hội. Cấu tạo của các loại rác biến đổi qua thời gian và nơi chốn, với quá trình phát triển và đổi mới có tính chất công nghiệp đang trực tiếp ảnh hưởng tới nguồn phế liệu. Ví dụ như nhựa và công nghệ hạt nhân. Một số thành phần của rác có giá trị kinh tế đã được tái chế lại một cách hoàn hảo.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu xét theo mức độ độc hại, người ta phân thành chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại. Nếu xét theo phương thức thải, thì chất thải được chia thành:

Rác sinh hoạt[sửa | sửa mã nguồn]

Rác thải sinh hoạt là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động, sản xuất của con người và động vật. Rác phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải… Trong đó, rác sinh hoạt chiếm tỉ lệ cao nhất. Số lượng, thành phần chất lượng rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Bất kỳ một hoạt động sống của con người, tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng…, đều sinh ra một lượng rác đáng kể. Thành phần chủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất. Cho nên, rác sinh hoạt có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường sống.

Rác văn phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Là các văn phòng phẩm không còn sử dụng được nữa

Chất thải công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Là các chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất các nhà máy, xí nghiệp, gồm:

  1. Chất thải rắn nguy hại: dễ cháy nổ, gây ngộ độc cho sức khỏe con người và dễ ăn mòn nhiều vật chất khác.
  2. Chất thải rắn không nguy hại.

Chất thải xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Thải ra từ quá trình hoạt động của công trường xây dựng và sửa chữa các công trình xây dựng, chủ yếu là các loại xà bần (gạch, đá, đất vụn...).

Chất thải y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế, gồm:

  1. Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn.
  2. Chất thải thông thường.[1]

Giáo dục và nhận thức[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục và nhận thức trong lĩnh vực rác và quản lý rác đang ngày càng trở nên quan trong. Tốc độ và mức độ gia tăng nhanh chóng của tình trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường và sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên đang là những vấn đề rất được quan tâm. Ô nhiễm không khí; tích tụ rác thải độc hại; phá hoại và làm khan hiếm rừng, đất và nước; tầng ô-zôn đang bị phá hủy và hiệu ứng nhà kính đang đe họa sự tồn tại của loài người và hàng ngàn sinh vật khác, sự đa dạng sinh học, an ninh quốc gia, và những di sản để lại cho thế hệ sau.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế của Việt Nam