Chuyển đổi giới tính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Biểu tượng Biểu tượng
Biểu tượng
Một người chuyển giới với chữ XY viết trên tay trong một cuộc biểu tìnhParis ngày 1 tháng 10 năm 2005.
Thiên hướng tình dục
Thiên hướng
Dị tính luyến ái
Đồng tính luyến ái
Song tính luyến ái
Vô tính
Nghiên cứu
Thống kê
Yếu tố sinh học
Yếu tố môi trường
Số lượng anh trai
Đặc điểm tay thuận
Thang Kinsey
Lưới Klein
Tình dục học
Danh sách
Gay flag.svg Chủ đề:Đồng tính,
song tính và hoán tính

Sexes-planetary-sym-dimcolors.svg Chủ đề:Tình dục

Chuyển đổi giới tính chỉ những thủ tục y khoa dùng để thay đổi giới tính của một người trong đó có thể bao gồm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay không. Người chuyển đổi giới tính là người đã được chuyển đổi giới tính. Do đó khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với thuật ngữ Người chuyển giới (Transgender) dùng để chỉ những người có cảm nhận rằng mình có giới tính khác với giới tính bẩm sinh của mình bất kể rằng người này có thực hiện chuyển đổi giới tính hay không.

Một người có thể được khám để xác định xem người đó có cảm thấy không thoải mái hoặc phải chịu đựng đau khổ khi sống với giới tính bẩm sinh. Người muốn chuyển đổi giới tính bị kỳ thị ở nhiều nơi trên thế giới tuy nhiên họ đã được nhiều người biết đến ở phương Tây từ giữa thế kỷ 20 đặc biệt là khi cuộc cách mạng tình dục và giải phẫu chuyển đổi giới tính phổ biến. Tuy vậy, đây là vấn đề tranh cãi lớn, do lo ngại về hệ lụy xã hội (gây xung đột với các tư tưởng tôn giáo hoặc các giá trị văn hóa, những hậu quả về pháp lý, y tế, giáo dục gây ra với xã hội...)

Nguyên nhân

Những trường hợp bị khuyết tật bẩm sinh về cơ quan sinh dục khiến việc xác định giới tính trở nên không rõ ràng, cần phải phẫu thuật để chỉnh sửa khiếm khuyết thì gọi là "xác định lại giới tính". Việc phẫu thuật của họ không được coi là chuyển đổi giới tính mà chỉ là sự chỉnh hình lại để giới tính trở nên rõ ràng.

Trong khi đó, người có mong muốn "chuyển đổi giới tính" thì có cơ thể hoàn toàn bình thường, nhưng về mặt tâm thần của họ có những biểu hiện sau:

  • Tự cho bản thân thuộc giới tính khác: những người này hoàn toàn bình thường về giải phẫu và sinh học nhưng tự cho bản thân thuộc giới tính khác và tìm cách thực hiện ý định chuyển đổi giới tính bằng các phương pháp phẫu thuật và sinh hóa (tiêm Hormone).
  • Trạng thái tự cải trang quần áo để biểu lộ thành giới khác: là những người chỉ thích mặc quần áo khác giới để cảm thấy mình đặc biệt so với giới tính sinh học của mình.

Những trường hợp này còn gọi là Rối loạn định dạng giới (Gender Identity Disorder). Năm 1980, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (APA) chính thức phân loại Rối loạn định dạng giới là một dạng bệnh tâm thần[1]. Các điều khoản chẩn đoán về chuyển giới, rối loạn định dạng giới ở thanh thiếu niên và người trưởng thành được liệt kê chung trong Bảng phân loại quốc tế về bệnh (ICD) và Thống kê các chứng rối loạn tâm thần của Hội chẩn đoán y khoa Hoa Kỳ (DSM) dưới mã số F64.0, F64.1, 302,85 và 302,6 tương ứng.[2], đến năm 2015 thì được phân loại lại với mã số F64.8, F-64.9 và 302.8[3][4]. Trung tâm cai nghiện và Sức khỏe tâm thần Hoa Kỳ xếp rối loạn này vào Mục DSM-V, kèm với đó là phác đồ điều trị của nhóm này[5].

Rối loạn định dạng giới cũng được phân loại như là một chứng rối loạn tâm thần bởi Trung tâm quốc tế về Phân loại bệnh và các vấn đề sức khỏe liên quan, biểu hiện của nó là những hành vi, thái độ chối bỏ giới tính của bản thân mình, gồm các tiêu chuẩn chẩn đoán[6]:

  • Muốn được sống và chấp nhận như một người khác giới tính, thường đi kèm với những mong muốn làm cho cơ thể, ngoại hình càng giống người khác giới càng tốt (qua trang phục, đi đứng, cách cư xử, thậm chí qua phẫu thuật chuyển giới), dù các bộ phận giới tính và sinh lý cơ thể của họ hoàn toàn bình thường và không bị dị tật.
  • Tâm lý trên tồn tại liên tục trong ít nhất hai năm.

Ước tính rằng có khoảng 0,005% đến 0,014% nam giới và 0,002% đến 0,003% nữ giới được chẩn đoán mắc chứng Rối loạn định dạng giới, dựa trên các tiêu chí chẩn đoán hiện tại[7] Rối loạn định dạng giới nếu không được phát hiện và chữa trị thì tâm lý trên sẽ trở nên mạnh hơn, bệnh nhân sẽ chối bỏ giới tính của cơ thể và muốn được tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính.[8]

Ảnh hưởng về pháp lý, xã hội và cá nhân

Pháp lý

Bên cạnh việc xung đột với các tư tưởng tôn giáo hoặc các giá trị văn hóa, việc cho phép chuyển đổi giới tính gây lo ngại về những hậu quả pháp lý sẽ xảy ra nếu việc này bị lợi dụng hoặc được pháp luật cho phép tiến hành, ví dụ như[9][10][11][12][13][14]:

  • Nhiều người (đa số là nam giới) sẽ chuyển đổi giới tính để trốn tránh nghĩa vụ quân sự, đặc biệt là khi đất nước sắp có chiến tranh.
  • Chuyển đổi giới tính để gian lận trong thể thao hoặc lừa đảo tài sản.
  • Chuyển đổi giới tính để trốn việc bị tòa án truy nã.
  • Chuyển đổi giới tính để hoạt động mại dâm.
  • Nếu người chuyển giới đã kết hôn thì sau khi chuyển giới, các thỏa thuận hôn nhân với chồng/vợ của họ sẽ đột nhiên trở nên vô hiệu, dẫn tới kiện cáo hoặc cố tình chuyển giới để vô hiệu hóa các thỏa thuận, điều luật trong hôn nhân (trốn tránh việc cấp dưỡng, nuôi con, chia tài sản...)
  • Nếu người chuyển giới đã có con thì đứa trẻ sẽ "bỗng nhiên" bị mất cha/mẹ trên giấy tờ nhân thân và trong cuộc sống gia đình.
  • Phẫu thuật chuyển giới dễ dẫn tới tai biến do hàng loạt các cuộc phẫu thuật liên tiếp, dẫn tới các vụ kiện cáo sau này.
  • Người tiến hành chuyển đổi giới tính có thể sẽ thấy hối hận sau khi tiến hành, nhưng khi đã phẫu thuật thì không thể đảo ngược kết quả được nữa.
  • Người tiến hành chuyển giới sẽ phải chịu sự phản đối của gia đình cũng như khó tìm việc làm, dễ dẫn tới các hành vi tiêu cực, làm tăng tỷ lệ phạm tội và bất ổn xã hội.
  • Việc phải tiêm hoóc-môn (kích thích tố giới tính) liên tục khiến người chuyển giới mắc nhiều tác dụng phụ, sức khỏe suy giảm và bị giảm đáng kể tuổi thọ, tạo ra gánh nặng cho gia đình, hệ thống y tế và an sinh xã hội.

Đức

Từ năm 1981 tòa án xã hội bang Stuttgart đã công nhận ý muốn chuyển đổi giới tính như là „ bệnh tật theo luật về bảo hiểm sức khỏe, hãng bảo hiểm phải trả tiền cho các biện pháp y khoa để chuyển đổi giới tính“.[15]

Sức khỏe

Người chuyển giới trước khi can thiệp phẫu thuật phải sử dụng hormone trong một thời gian khá dài, khiến tâm lý bị đảo lộn, cơ thể của họ bị yếu đi trông thấy, dễ nhiễm bệnh. Tiêm không đúng cách và liều lượng có thể nguy hiểm tính mạng. Sau đó họ sẽ phải trải qua vài chục cuộc tiểu phẫu với những đau đớn và nguy cơ tai biến cả về thể chất lẫn tâm lý. Sau vài năm, họ sẽ già đi nhanh chóng, sức khỏe của họ trở nên tồi tệ do những biến chứng từ phẫu thuật và tiêm hoóc-môn, những cơn đau thể xác giày vò cả ngày lẫn đêm. Đối với nam chuyển sang nữ, những lớp mỡ sẽ biến mất, vú teo lại mà trơ ra là khung xương thô kệch của đàn ông. Đối với nữ chuyển sang nam, râu tóc của họ sẽ rụng, dương vật giả sẽ teo đi (thậm chí bị hoại tử), khung xương chậu bị tổn thương khiến đi lại khó khăn. Những người không có đủ tiền để uống/tiêm kích thích tố đều đặn thì những hậu quả này thậm chí sẽ xuất hiện nhanh hơn[16]. Ca sĩ chuyển giới Nong Poy (Thái Lan) chia sẻ: khi chuyển giới tức là chấp nhận rút ngắn tuổi thọ xuống khoảng 20 năm, người chuyển giới khó có thể sống ngoài 40 tuổi[17]

Những người chuyển giới đều chung số phận: Vĩnh viễn không thể có con, phải uống/tiêm thuốc kích thích tố nam hoặc nữ suốt đời, vẻ "mỹ miều" bên ngoài chỉ trụ được 5-10 năm, sau đó thân hình, da dẻ mau chóng già nua nhanh hơn nhiều so với người bình thường. Về đời sống tình dục cũng rất bất ổn do các bộ phận nhân tạo không thể có chức năng như bộ phận của người thường. Hiếm hoi lắm mới có một người chuyển giới tìm được hạnh phúc gia đình thực sự[18].

Nghiên cứu năm 2014 ở Mỹ cho thấy người chuyển giới có tỷ lệ đặc biệt cao về trầm cảmtự sát do những thất vọng về cuộc sống sau khi chuyển giới. Tỷ lệ tự sát ở nhóm này ít nhất ở mức 30-40%, trong khi ở những ước lượng cao lên tới 50-60%[19] Những rủi ro liên quan với việc tiêm hormone, cắt sửa bộ phận sinh dục và các phẫu thuật khác như bệnh ung thư (vú và tuyến tiền liệt), bệnh tim (đột quỵ, bệnh tim mạch), và tắc mạch máu não trong những người chuyển giới đang tiếp tục được nghiên cứu[20].

Tại Thái Lan (một "thiên đường" của việc chuyển đổi giới tính), nhà hoạt động Nathee Teerarojanapong nói về kết quả không mong đợi từ việc chuyển đổi giới tính: "Tôi nhận được nhiều cuộc gọi từ những người nói họ cảm thấy tiếc vì đã chuyển giới. Họ đã phạm một sai lầm lớn và muốn trở lại như cũ nhưng không thể"[21].

Bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình Trần Ngọc Vinh cho biết: việc chuyển đổi giới tính không chỉ đơn giản là việc chuyển đổi bộ phận sinh dục mà các diễn biến tâm lý, đời sống sau đó của người chuyển giới mới là vấn đề lớn. Bác sĩ Trần Ngọc Vinh tiết lộ: "Hầu hết bệnh nhân sau khi sang Thái Lan phẫu thuật chuyển đổi giới tính xong đều thấy ân hận, thất vọng. Đối với mọi người xung quanh, họ vẫn tỏ ra là hạnh phúc, mãn nguyện nhưng khi nói chuyện với các bác sĩ tâm lý, bác sĩ chuyên khoa thì lại khác. Nhiều người chuyển giới không thể tìm được những khoái cảm (trong cuộc sống và tình dục) như đối với giới tính ban đầu. Họ đâm ra chán con người mới của mình mà trước đó, họ khát khao vô cùng". Bác sĩ Nguyễn Hà cho biết: "Sau một thời gian “hồ hởi” sống với giới tính mới của mình, nhiều người chuyển giới suy sụp vì không tìm được niềm vui trong cuộc sống... Một số người nam chuyển sang nữ sau một thời gian sống dặt dẹo thì chuyển nghề làm... gái mại dâm". Do vậy, bác sỹ Hà khuyên rằng: dù mang tâm lý không chấp nhận giới tính bẩm sinh của mình thì con người cũng không nên can thiệp dao kéo vào giới tính của cơ thể, vì phẫu thuật chuyển giới để lại hệ lụy rất khó kiểm soát về sau, nhất là vấn đề tâm lý[18].

Văn hóa

Nga

Theo báo mạng "Công an nhân dân" cho là lấy tin từ đài BBC, kể từ ngày 15/1/2015, tất cả những người đã chuyển đổi giới tính ở Nga đều bị cấm điều khiển các phương tiện cơ giới cá nhân. Ai vi phạm, ngoài khoản tiền phạt nặng ra, có thể bị cảnh sát truy tố ra tòa. Theo thông tư liên tịch giữa Bộ Nội vụ và Bộ Giao thông Vận tải Liên bang, chính phủ Nga nghiêm cấm bất cứ cá nhân nào được cơ quan y tế chẩn đoán bị rối loạn nhân cách, bao gồm cả những người đã và đang muốn chuyển đổi giới tính sẽ không được lái xe, bởi ngoại hình thái quá của họ đã vi phạm thuần phong mỹ tục truyền thống của Nga[22].

Chuyển đổi giới tính ở Việt Nam

Nhiều người Việt Nam không phân biệt được những khái niệm người đồng tính luyến ái, người hoán tính/chuyển đổi giới tính, người lưỡng tính mặc dù đây là những khái niệm khác nhau.[23][24]

"Xác định lại giới tính" là thuật ngữ để chỉ những thủ tục dùng để điều chỉnh lại giới tính của một người do người đó có khuyết tật cơ thể về giới tính hoặc bộ phận sinh dục chưa được định hình chính xác.[25] Trong khi đó, thuật ngữ "chuyển đổi giới tính" được áp dụng cho người có cơ thể bình thường nhưng vẫn đi phẫu thuật chuyển đổi giới tính do bị các vấn đề tâm thần (ví dụ như mắc chứng bệnh tâm thần Rối loạn định dạng giới). Nghị định Về xác định lại giới tính của chính phủ Việt Nam năm 2008 cho phép thực hiện xác định lại giới tính đối với những người có khuyết tật về cơ thể, đăng ký lại hộ tịch cho họ và nghiêm cấm phân biệt đối xử cũng như tiết lộ thông tin cho người khác biết.[25] Đối với việc chuyển đổi giới tính cho những người đã có cơ thể đã định hình hoàn chỉnh về giới tính thì pháp luật Việt Nam nghiêm cấm.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ “glbtq >> social sciences >> Transgender Activism”. Truy cập 23 tháng 4 năm 2015. 
  2. ^ Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fourth Edition (1994)
  3. ^ “ICD”. Truy cập 23 tháng 4 năm 2015. 
  4. ^ “ICD”. Truy cập 23 tháng 4 năm 2015. 
  5. ^ Newsroom | APA DSM-5
  6. ^ “Gender identity disorder in adolescence and adulthood”. ICD10Data.com. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  7. ^ Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders 5. American Psychiatric Association. 2013. tr. 454. ISBN 978-0890425558. 
  8. ^ The American Psychiatric Publishing textbook of psychiatry. Robert Ernest Hales, Stuart C. Yudofsky, Glen O. Gabbard. American Psychiatric Publishing 2008. ISBN 978-1-58562-257-3. P 1475
  9. ^ Routledge Handbook of Sport, Gender and Sexuality. Jennifer Hargreaves, Eric Anderson. Routledge, 05-03-2014. P 387-388
  10. ^ Transgender Family Law: A Guide to Effective Advocacy. Jennifer L. Levi, Elizabeth E. Monnin-Browder. Author House, 19-04-2012. Chapter I: Introduction, P. 1-15
  11. ^ [://www.ibla.org.vn/?cate=f&id=25220 Viện Khoa học pháp lý và kinh doanh quốc tế - Kỳ 3]
  12. ^ Kỳ 4
  13. ^ Người chuyển giới trong đời sống xã hội và pháp luật Việt Nam - Bô Tư pháp
  14. ^ Tiểu luận: Quyền xác định lại giới tính và hậu quả pháp lý
  15. ^ Landessozialgericht Stuttgart, Urteil vom 27. November 1981 – Az: L 4 Kr 483/80.
  16. ^ “Những nỗi đau thể xác tột cùng khi phẫu thuật chuyển giới”. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  17. ^ “Nong Poy: chết trước tuổi 40 vì chuyển giới”. Eva.vn. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  18. ^ a ă “Bất ngờ với những tiết lộ "sốc" của bác sỹ phẫu thuật chuyển đổi giới tính”. Báo đời sống & pháp luật Online. Truy cập 25 tháng 12 năm 2014. 
  19. ^ http://williamsinstitute.law.ucla.edu/wp-content/uploads/AFSP-Williams-Suicide-Report-Final.pdf
  20. ^ “Later Adulthood”. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  21. ^ “Thái Lan siết chặt luật chuyển đổi giới tính”. Tin Mới Online. Truy cập 25 tháng 12 năm 2014. 
  22. ^ “Nga: Cấm người chuyển đổi giới tính lái xe”. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015. 
  23. ^ “Chuyển đổi giới tính và suy về một chuyến đi”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2009. 
  24. ^ “Những ngộ nhận thường gặp về người đồng tính - VnExpress Đời sống”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 25 tháng 12 năm 2014. 
  25. ^ a ă Nghị định về xác định lại giới tính