Elvis Costello

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Elvis Costello
Elvis Costello 2012.JPG
Costello tại Riot Fest, Chicago năm 2012
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Declan Patrick MacManus
Nghệ danh D.P. Costello
The Imposter
Little Hands of Concrete
Napoleon Dynamite
Howard Coward
Sinh 25 tháng 8, 1954 (60 tuổi)
Paddington, London, Anh
Nghề nghiệp Nhạc sĩ, nhạc công, ca sĩ, nhà sản xuất
Thể loại Pub rock, post-punk, new wave, punk rock
Nhạc cụ Hát, guitar, keyboards, bass, trống
Năm 1970–nay
Hãng đĩa Stiff, Radar, F-Beat, Demon, Columbia, Warner Bros., Mercury, Island, Deutsche Grammophon, Lost Highway, Verve, HearMusic, Rykodisc, Rhino, Hip-O
Hợp tác The Attractions, The Imposters, Diana Krall, Burt Bacharach, Brodsky Quartet, Nick Lowe, Madness, The Strokes, The Specials, Squeeze, Paul McCartney
Website Elvis Costello.com
Nhạc cụ nổi bật
Fender Jazzmaster
Fender Telecaster

Elvis Costello, tên thật là Declan Patrick MacManus, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1954, là một ca sĩ - nhạc sĩ người Anh[1]. Anh bắt đầu sự nghiệp với việc chơi nhạc pub rock ở London vào đầu những năm 70, sau đó gắn liền với phong trào Punk/New Wave ở Anh nửa sau thập niên này[2][3]. Album đầu tay của anh, My Aim Is True (1976), đã ngay lập tức có được nhiều phản hồi tích cực. Ngay sau đó, Costello thành lập nên ban nhạc The Attractions. Họ đã đi tour và thu âm nhiều album cùng nhau trong suốt 10 năm, cho tới khi những bất đồng giữa anh với các thành viên dẫn tới việc ban nhạc tan rã vào năm 1986. Sự nghiệp của Costello từ đó trở nên nổi bật hơn trong vai trò solo, cho dù sau đó The Attractions cũng có vài lần tái hợp ngắn gián đoạn trong nhiều năm.

Chú trọng vào phần lời, ca từ trong các ca khúc của Costello bao hàm rất nhiều chủ đề hơn bất cứ những ca khúc phổ thông nào khác. Âm nhạc của anh cũng bao gồm nhiều thể loại, thậm chí có đánh giá đã coi anh như "một cuốn bách khoa nhạc pop" có thể "khơi gợi lại quá khứ bằng cách của mình"[4].

Costello đã từng giành vô số giải thưởng suốt sự nghiệp của mình, trong đó có Giải Grammy, và 2 lần được đề cử Brit Award cho nghệ sĩ nam xuất sắc nhất[5]. Năm 2003, Elvis Costello cùng The Attractions được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll[6]. Năm 2004, tạp chí Rolling Stone xếp anh ở vị trí số 80 trong danh sách "100 nghệ sĩ vĩ đại nhất"[7].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Elvis Costello at NNDB”. Nndb.com. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2011. 
  2. ^ Masley, Ed (18 tháng 10 năm 2002). “The Best of Elvis Costello”. Post-Gazette. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2011.  Đã định rõ hơn một tham số trong |work=|newspaper= (trợ giúp)
  3. ^ “Elvis Costello”. Encyclopædia Britannica. 25 tháng 8 năm 1954. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2011. 
  4. ^ Stephen Thomas Erlewine, Get Happy!!, Allmusic. Retrieved 17 September 2007.
  5. ^ Elvis Costello BRITS Profile BRIT Awards Ltd
  6. ^ Elvis Costello and the Attractions Rockhall.com.
  7. ^ 100 Greatest Artists: Elvis Costello Rolling Stone.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Paumgarten, Nick (8 tháng 11 năm 2010). “Profiles: Brilliant Mistakes”. The New Yorker 86 (35): 48–59. 
  • Costello, Elvis. A Singing Dictionary. London: Plangent Visions Music; New York, N.Y.: Exclusive selling agent for the United States and Canada, Warner Bros. Publications, 1980. ISBN 0-7692-1505-X. Sheet music, chords, and lyrics for works 1977–1980.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Elvis Costello