Hồ Vänern

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vänern
Hjortens Udde, lake Vänern Sweden, 2003-04.jpg
Lake Vänern details.png
Bản đồ chi tiết hồ với các vùng lân cận
Địa lý
Tọa độ 58°55′B 13°30′Đ / 58,917°B 13,5°Đ / 58.917; 13.500Tọa độ: 58°55′B 13°30′Đ / 58,917°B 13,5°Đ / 58.917; 13.500
Nguồn cấp nước chính Klarälven (sông Klarälv)
Nguồn thoát đi chính Göta älv (sông Göta)
Quốc gia lưu vực Thụy Điển
Diện tích bề mặt 5,650 km²[1]
Độ sâu trung bình 27 m[1]
Độ sâu tối đa 106 m[1]
Dung tích 153 km³[1]
Cao độ bề mặt 44 m[1]
Các đảo Brommö, Djurö, Fågelö, Hammarö, Kållandsö, Lurö
Bản đồ Thụy Điển; hồ Vänern ở giữa miền Nam.

Hồ Vänern (phát âm tiếng Thuỵ Điển: [ˈvɛːnəɳ]) là hồ lớn nhất Thụy Điển, lớn nhất trong Liên minh châu Âu và lớn thứ ba châu Âu sau Hồ LadogaHồ OnegaNga. Hồ này nằm ở các tỉnh Västergötland, DalslandVärmland trong vùng tây nam Thụy Điển.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt địa chất, hồ này được tạo thành sau kỷ băng hà chót, khoảng 10.000 năm trước; khi băng tan ra, toàn bộ chiều ngang của Thụy Điển bị chìm trong nước, tạo ra một eo biển giữa KattegatVịnh Bothnia. Do isostatic rebound[2] tiếp theo sau, các hồ như Vänern và Vättern trở thành khép lại. Kết quả là, vẫn còn nhiều loài sinh vật từ kỷ băng hà mà thông thường không gặp thấy ở các hồ nước ngọt, chẳng hạn như amphipod (động vật giáp xác chân 2 kiểu) Monoporeia affinis[3]. Một tàu Viking cũng đã được tìm thấy ở đáy hồ này ngày 6.5.2009.

Một chuyện do nhà chép thần thoại người Icelandthế kỷ 13 Snorri Sturluson thuật trong quyển Prose Edda của ông về nguồn gốc hồ Mälaren dường như bắt đầu về hồ Vänern: vua Gylfi của Thụy Điển hứa cho một phụ nữ - Gefjun - rằng ông sẽ cho cô vùng đất mà 4 con bò có thể cày trong một ngày một đêm, nhưng cô đã sử dụng các bò từ vùng đất của những người khổng lồ, và hơn thế nữa còn xúc đất và đem đổ xuống biển, nơi mà nó đã trở thành đảo Zealand của Đan Mạch. "Snorra Edda" cho biết rằng các vịnh nhỏ trong hồ này tương ứng với các mũi đất ở đảo Zealand[4]; vì đây là chuyện khá thực của hồ Vänern, nên huyền thoại trên có lẽ ban đầu nói về hồ Vänern, chứ không phải hồ Mälaren.[5]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Vänern có diện tích là 5.655 km2 (2.183 sq mi). Nó nằm ở độ cao 44 m (144 ft) trên mực nước biển và có độ sâu trung bình 27 m (89 ft). Độ sâu tối đa của hồ là 106 m (348 ft).[6]

Về mặt địa lý, hồ nằm ở biên giới giữa vùng GötalandSvealand của Thụy Điển, chia thành nhiều tỉnh: Phần hồ phía tây gọi là Dalbosjö, với phần chính thuộc về Dalsland; phần phía đông gọi là Värmlandsjön, phần phía bắc thuộc về Värmland, còn phần phía nam thuộc về Västergötland.

Sông nhánh là Klarälven, chảy vào hồ ở gần thành phố Karlstad, ở bờ phía bắc. Nước hồ chảy ra ở phía tây nam bởi Göta älv (sông Göta), tạo thành một phần của đường thủy kênh Göta, tới hồ Viken rồi vào hồ Vättern ở đông nam xuyên qua Thụy Điển.

Các đô thị chung quanh hồ, đã được xây dựng lên từ nhiều thế kỷ trước, trong đó có: Karlstad (được cấp đặc quyền thương trấn năm 1584), Kristinehamn (1642), Mariestad (1583), Lidköping (1446) Vänersborg (1644), Åmål (1643), Säffle (1951), và xa hơn là Trollhättan (1916). Các đô thị này thịnh vượng nhờ kỹ nghệ đánh bắt cá trong hồ và việc vận chuyển dễ dàng tới các thành phố khác hoặc sang phía tây thông qua sông Göta tới Kattegat.

Quanh đảo Djurö ở giữa hồ, là quần đảo Djurö đã được mang danh hiệu Vườn quốc gia Djurö.

Ngọn núi (núi cao nguyên) Kinnekulle là một điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng nằm gần bờ phía đông nam của hồ Vänern. Từ đây có cái nhìn bao quát hồ tốt nhất (khoảng 270 mét (890 ft) trên mực nước hồ). Một ngọn núi khác gần đó là núi Halleberg.

Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghiên cứu giám sát môi trường được tiến hành hàng năm. Trong một báo cáo năm 2002, các dữ liệu cho thấy không có sự suy giảm rõ ràng chất lượng nước tổng thể, nhưng có sự giảm nhẹ trong tầm nhìn do sự gia tăng tảo. Một mức độ tăng nitơ đã trở thành vấn đề từ thập niên 1970 đến thập niên 1990, nhưng hiện đang được điều hòa và ở mức ổn định.

Một số vịnh cũng có vấn đề về phú dưỡng (eutrophication = quá nhiều chất dinh dưỡng) và đã bị tảo và sinh vật trôi nổi.(plankton) phát triển quá tràn lan.

[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Vänern có nhiềi loài cá khác nhau. Các viên chức chính phủ và địa phương cố gắng để thực thi dự án bảo quản cá, do nhiều mối đe dọa khác nhau đến môi trường sống của cá. Những mối đe dọa này bao gồm nước canh tác đổ vào hồ qua các nhánh sông, sự ô nhiễm và hội chứng M74[7]. Việc câu cá hể thao ở hồ Vänern vẫn còn miễn phí và không được điều hòa, cả từ bờ hồ và từ tàu thuyền (với một số hạn chế, ví dụ như tối đa là 3 con cá hồi hoặc cá hồi sông (trout) mỗi người mỗi ngày). Chỉ có việc đánh bắt cá thương mại thì phải có được sự cho phép.

Ở vùng nước ngoài khơi của hồ Vänern có nhiều cá ốt-me, nhiều nhất ở phía đông Dalbosjön, nơi trung bình có khoảng 2.600 cá ốt-me mỗi hecta. Ở đây cũng có nhiều cá hồi bạc (Coregonus albula), trung bình từ 200–300 cá mỗi hecta. Số lượng cá có thể khác nhau rất nhiều giữa các năm, tùy thuộc vào nhiệt độ và mực nước và chất lượng nước.

Cá ở hồ Vänern quan trọng cho ngành công nghiệp đánh bắt cá ở những thị trấn xung quanh. Năm 2001, lượng đánh bắt là 165 tấn (165.000 kg) cá hồi bạc, 100 tấn cá hồi trắng, và 25 tấn cá chình.

Cá hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Vänern có 2 phân nhóm cá hồi hồ, gọi là cá hồi Vänern. Chúng có nguồn gốc ở hồ Vänern và sinh sản trong các hồ liền kề. Phân nhóm đầu tiên được đặt tên theo sông nhánh phía đông Gullspångsälven là cá hồi Gullspång. Phân nhóm thứ hai là cá hồi Klarälv, chủ yếu sinh sản ở Klarälven. Các phân nhóm này có liên quan đến cá hồi biển Baltic, và chúng đã phát triển ở hồ Vänern trong hơn 9.000 năm. Đáng chú ý là chúng chưa bao giờ di chuyển vào đại dương.

Những cá hồi hồ lớn cân nặng tới 18 kg. Cá hồi hồ lớn nhất thế giới, nặng hơn 20 kg, được bắt ở hồ Vänern. Ngoài ra còn có 3 loài cá khác giống như cá hồi khác trong các sông kết nối.

Các cá khác[sửa | sửa mã nguồn]

Về cơ bản tất cả các cá nước ngọt thông thường đều tìm thấy ở hồ Vänern. Các cá lớn quan trọng nhất là troutZander. Cá nhỏ quan trọng nhất là cá gai.

Hồ Vänern có 5 loài cá Coregonus |cá thịt trắng]]: khác biệt:

Chim muông[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài chim phổ biến nhất gần hồ Vänern là các loài nhạn (tern) và gull khác nhau.Cormorant đã biến mất trong thế kỷ 19, nhưng sau đã trở lại và sinh trưởng nhiều. Các loài chim hiếm là Black-throated diver, Turnstone (Arenaria interpres) và Caspian tern.

Tham khảo và Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Sepp2005
  2. ^ việc đất lại nâng lên sau khi bị băng hà nén xuống
  3. ^ một loài giáp xác thuộc Bộ bơi nghiêng (amphipod) ở vùng biển Baltic
  4. ^ Anthony Faulkes (ed. and trans), Snorri Sturluson: Edda (London: Everyman, 1987), p. 7.
  5. ^ Heimir Pálsson, 'Tertium vero datur: A study of the text of DG 11 4to', p. 44 http://urn.kb.se/resolve?urn=urn:nbn:se:uu:diva-126249.
  6. ^ World Lakes Database
  7. ^ chứng bệnh của cá hồi ở biển Baltic và vùng lân cận do thiamine (Vitamin B1
  8. ^ Fishbase

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]