Hibakusha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một hibakusha trực tiếp của vụ nổ tại Hiroshima, cô bị bỏng nặng, các vết hằn trên vai cô là vết hoa văn của chính chiếc kimono cô mặc khi vụ nổ xảy ra

Hibakusha (tiếng Nhật: 被爆者 Bị Bạo giả) là cụm từ được Nhật Bản dùng để chỉ những nạn nhân của Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Hibakusha có thể dịch ra là "những người bị ảnh hưởng bởi vụ nổ"[1].

Luật định[sửa | sửa mã nguồn]

Hibakusha được xác định theo Luật Cứu trợ nạn nhân bom nguyên tử như sau:

  1. Là những người ở trong bán kính vài km tính từ tâm vụ nổ khi vụ nổ xảy ra
  2. Là những người ở trong bán kính 2 km tính từ tâm vụ nổ trong vòng 2 tuần kể từ khi vụ nổ xảy ra
  3. Là những người bị phơi nhiễm do bức xạ của vụ nổ
  4. Là trẻ do phụ nữ thuộc một trong ba nhóm trên mang thai[2]

Các hibakusha được hưởng trợ cấp hàng tháng từ chính phủ Nhật. Những người mắc các bệnh có liên quan đến bức xạ như ung thư bạch cầu được hưởng trợ cấp y tế đặc biệt của chính phủ[3]. Để hỗ trợ các hibakusha cũng như tham gia đấu tranh chống vũ khí hạt nhân, Hiệp hội nạn nhân bom A và bom H (Nihon Hidankyo) đã được thành lập năm 1956[4].

Tình trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Do sự thiếu hiểu biết của một bộ phận dân chúng Nhật thời gian sau Thế chiến thứ hai, các hibakusha và con cái của họ đôi khi bị phân biệt và xa lánh vì người dân tin rằng các bệnh liên quan đến phóng xạ từ những hibakusha có thể lây sang mình và là bệnh di truyền[5] (trong khi thực tế không phải như vậy). Vì lý do này một số hibakusha và con cháu của họ đã phải dấu đi gốc gác của mình để tránh bị phân biệt đối xử[6].

Tính cho đến năm 2007, có tổng cộng 251.834 người còn sống được chính phủ Nhật chứng nhận là hibakusha, họ có độ tuổi trung bình 74,6[7]. Phần lớn trong số họ đang sống ở Nhật Bản, tuy vậy cũng có một số ít sống ở Triều Tiên hoặc các nước khác. Hàng năm cứ vào dịp kỉ niệm sự kiện bi thảm này, danh sách các hibakusha đã qua đời trong năm đó được ghi thêm vào các bia tưởng niệm đặt ở HiroshimaNagasaki. Tính cho đến năm 2007, số hibakusha qua đời ở Hiroshima được ghi nhận là 253.008 người[8], con số này ở Nagasaki là 143.124 người[9].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hersey, John (1985) Hiroshima (Hersey). A.A. Knopf, p. 92.
  2. ^ “Overseas Atomic Bomb Survivors Support Program”. Atomic Bomb Survivors Affairs Division Health And Welfare Department Nagasaki prefectural Government. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2007. 
  3. ^ “"30 A-bomb survivors apply for radiation illness benefits"”. Japan Times. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2007. 
  4. ^ “Welcome to HIDANKYO”. Japan Confederation of A- and H-Bomb Sufferers Organization (Nihon Hidankyo) website. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2007. 
  5. ^ “"Prejudice haunts atomic bomb survivors"”. Japan Times. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2007. 
  6. ^ Terkel, Studs (1984). The Good War. Random House. tr. p. 542. 
  7. ^ “"Hiroshima marks 62nd A-bomb anniversary"”. Kuwait News Agency. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2007. 
  8. ^ “"Japan marks Hiroshima anniversary"”. MSNBC. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2007. 
  9. ^ “"Nagasaki marks 62nd anniversary of atomic bombing"”. Japan Today. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]