Khedrup Gyatso

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khải-châu Gia-mục-thố Gyatso
Đạt-lại Lạt-ma thứ 11
Cai trị 1842–1856
Tiền vị Sở-xưng Gia-thố
Kế vị Thành-liệt Gia-thố
Tiếng Tạng མཁས་གྲུབ་རྒྱ་མཚོ་
Wylie mkhas grub rgya mtsho
Phát âm [kʰɛtʂup catsʰɔ]
THDL Kedrup Gyatsho
Tiếng Hán 凱珠嘉措
Ngày sinh 01 tháng 11, 1838(1838-11-01)
Gathar, Kham, Tây Tạng
Ngày mất 31 tháng 1, 1856 (17 tuổi)
Lhasa, Tây Tạng

Khedrup Gyatso hay phiên âm theo Hán ViệtKhải-châu Gia-thố (1 tháng 11 năm 1838 – 31 tháng 1 năm 1856) là Đạt-lại Lạt-ma thứ 11 của Tây Tạng.[1]

Ông được công nhận là hóa thân thứ 11 của Đạt-lai Lạt-ma vào năm 1840, ông xuất thân từ cùng một ngôi làng với Cách-tang Gia-thố, Đạt-lại Lạt-ma thứ 7, sinh năm 1708. Năm 1841, Ban-thiền Lạt-ma thứ 7, Palden Tenpai Nyima, đã làm lễ tôn phong, cắt tóc và ban cho ông tên gọi Khải-châu Gia-thố.[1]

Năm 1842, ông đăng cơ tại cung Potala và đến năm 1849, ở tuổi 11, ông được Ban-thiền Lạt-ma thứ bảy tuyên bố bắt đầu tu hành.[2] Ông nắm đầy đủ quyền lực theo thỉnh cầu của chính quyền vào ngày 1 tháng 3 năm 1855. Tuy nhiên, ông đã qua đời chưa đầy một năm sau đó, và trở thành hóa thân Đạt-lại Lạt-ma thứ ba chết khi còn ở tuổi quá trẻ.

"Trong thời kỳ của các Đạt-lại Lạt-ma mệnh ngắn—từ hiện thân thứ 9 đến thứ 12, Ban-thiền Lạt-ma là Lạt-ma cai quản, lấp đầy khoảng trống để do các Đạt-lại Lạt-ma để lại khi họ qua đời sớm."[3]

Ông có viết một cuốn sách thơ, Câu chuyện của khỉ và chim (Bya sprel gyi gtam-rgyud). Đó là một chuyện ngụ ngôn về cuộc chiến tranh vào cuối thế kỷ 18 giữa người Tạng và người Gurkha (tương ứng là "chim" và "khỉ").[4]

Trong giai đoạn Khải-châu Gia-thố sống, chiến tranh tại Ladakh đã làm suy yếu sức mạnh của các vị Lạt-ma trên cao nguyên Thanh-TạngChiến tranh Nha phiến cùng khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc đã làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Tây Tạng. Vào những năm cuối ông cai trị, người Nepal đã xâm lược Tây Tạng, song đã thất bại trong chiến tranh Nepal-Tây Tạng (1855-1856).

Ông đột ngột qua đời tại cung Potala, Lhasa, Tây Tạng vào ngày 31 tháng 1 năm 1856.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “His Holiness the Eleventh Dalai Lama, Khedrup Gyatso”. The Office of His Holiness The Dalai Lama. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012. 
  2. ^ Khetsun Sangpo Rinpoche. (1982). "Life and times of the Eighth to Twelfth Dalai Lamas." The Tibet Journal. Vol. VII Nos. 1 & 2. Spring/Summer 1982, p. 50.
  3. ^ The Fourteen Dalai Lamas: A Sacred Legacy of Reincarnation, p. 175. Glenn H. Mullin. Clear Light Publishers. Santa Fe, New Mexico. ISBN 1-57416-092-3.
  4. ^ Stein, R. A. (1972) Tibetan Civilization, p. 269. Stanford University Press. ISBN 0-8047-0806-1 (cloth); ISBN 0-8047-0901-7 (pbk)

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mullin, Glenn H. (2001). The Fourteen Dalai Lamas: A Sacred Legacy of Reincarnation, pp. 361–367. Clear Light Publishers. Santa Fe, New Mexico. ISBN 1-57416-092-3.
Tiền vị:
Sở-xưng Gia-thố
Dalai Lama
1842–1856
Công nhận năm 1841
Kế vị
Thành-liệt Gia-thố