Mơ lông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Paederia foetida
Starr 001101-0044 Paederia foetida.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiosperms
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Gentianales
Họ (familia) Rubiaceae
Chi (genus) Paederia
Loài (species) P. foetida
Danh pháp hai phần
Paederia foetida
L. [1]
Danh pháp đồng nghĩa
Lá và hoa mơ lông ở miền Nam Việt Nam

Mơ lông hay còn gọi là mơ tam thể, ngưu bì đống, mẫu cẩu đằng, ngũ hương đằng, thanh phong đằng, mao hồ lô,[3] (danh pháp khoa học:Paederia foetida), là một loài thực vật có hoa trong họ Thiến thảo, có nguồn gốc từ khu vực ôn đới và nhiệt đới Châu Á; và lan rộng đến các vùng như quần đảo Mascarene, Melanesia, Polynesia, Hawaii,[4] nó cũng được phát hiện thấy ở Bắc Mỹ trong một số nghiên cứu gần đây.[2] Thân và lá của nó có mùi hôi nồng đặc trưng của lưu huỳnh, do tinh dầu có nhiều trong lá chứa hợp chất của lưu huỳnh, phần lớn là dimethyl disulfide,[5] nên còn gọi là lá thúi địt.[3]. Loài này được Carl Linnaeus mô tả khoa học đầu tiên năm 1767.[6]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Mơ lông có nguồn gốc ở miền Nam BangladeshBhutan; Campuchia, Đài LoanTrung Quốc (Hồng KôngMa Cao, và các tỉnh An Huy, Phúc Kiến, Cam Túc, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, Giang Tây, Thiểm Tây, Sơn Đông, Sơn Tây, Tứ Xuyên, Tây Tạng, Vân Nam, Chiết Giang), Ấn Độ (Andhra Pradesh, Warangal, Arunachal Pradesh, Assam, Manipur, Meghalaya, Mizoram, Nagaland, Sikkim, ở phía bắc của Tây Bengal, quần đảo AndamanNicobar), Indonesia, Nhật Bản (Honshu, Kyushu, Shikoku, cũng như trong quần đảo Ryukyu); Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Thái LanViệt Nam.[2]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Mơ lông là cây thân leo lâu năm lá rộng, có thể leo cao đến 9 m. Lá màu xanh sáng nhạt, hình ôvan mũi mác, dài đến 21 cm và rộng 7 cm, có mùi lưu huỳnh. Hoa màu trắng dài 1.5 cm, họng hoa có màu đỏ sắc tím.[7]

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Mơ lông đôi khi được trồng làm cảnh và dùng như một vị thuốc trong y học dân gian.[2] Quả có thể làm đen răng và giảm đau răng.[8] Theo Tuệ Tĩnh, dây và lá mơ lông có thể dùng để trị bệnh kiết lỵ.[9]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^  This species was first described botanically and published in Mantissa Plantarum 1: 52. 1767. “Name - Paederia foetida L.”. Tropicos. Saint Louis, Missouri: Missouri Botanical Garden. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ a ă â b GRIN (17 tháng 10 năm 2001). Paederia foetida information from NPGS/GRIN”. Taxonomy for Plants. National Germplasm Resources Laboratory, Beltsville, Maryland: USDA, ARS, National Genetic Resources Program. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010. 
  3. ^ a ă BS Trang Xuân Chi. “Công dụng của lá mơ”. 
  4. ^ Germplasm Resources Information Network (GRIN)-Eintrag
  5. ^ K.C.Wong; G.L.Tan (Jan/Feb, 1994). “Steam volatile constituents of the aerial parts of Paederia foetida L. (abstract)”. Flavour and Fragrance Journal (Universiti Sains Malaysia, Penang, Malaysia: John Wiley & Sons, Inc.) 9 (1): 25–28. doi:10.1002/ffj.2730090106. 
  6. ^ The Plant List (2010). Paederia foetida. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2013. 
  7. ^ (tiếng Đức)Paederia foetida - Stinkwein, Chinesischer Fieberwein, Skunk Vine, Chinese Fever Vine
  8. ^  H. Panda: Herbs Cultivation and Medicinal Uses. National Institute Of Industrial Research, Delhi 1999, ISBN 8-18662-346-9 (Bản mẫu:Google Buch).
  9. ^ Nguyễn, Bá Tĩnh (2007). Tuệ Tĩnh toàn tập. NXB Y học. tr. 190. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]