Mủ gòn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Mủ gòn là dịch tiết từ thân cây gòn (Gossampinus malabarica). Mủ gòn có màu nâu tối, dạng thạch đặc, vón thành từng cục như sương sa, cắn vào có vị chát nhẹ.[1] Tại Việt Nam, mủ gòn được sử dụng cho mục đìch giải khát như một thức uống có vị thuốc.[2]

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Mủ gòn có thành phần năng lượng không đáng kể, và một số chất khoáng như Ca, K, Mg, Zn, Na.[2]

Nó chứa một hàm lượng cao chất xơ hoà tan trong nước.[2]

Tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Theo đông y, mủ gòn có vị ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chỉ khát, nhuận tràng vị, lợi tiểu và sát trùng đường tiểu[2]

Mủ gòn được sử dụng làm thức uống giải khát, giải độc và chống táo bón do có thần phần chất xơ cao có khả năng trương nở lên gấp từ tám đến mười lần trong nước và kết dính cặn bã độc hại trong ruột già, tăng lượng phân và nhu động ruột. Ngoài ra, mủ gòn góp phần cải thiện độ mỡ trong máu, tăng cảm giác no và điều tiết lượng đường trong máu ở người thừa cân, béo phì hoặc đái tháo đường.[2]

Người Việt Nam thường sử dụng mủ trôm, mủ gòn đơn độc hoặc kết hợp với một số thực vật khác như hột é, lười ươi để pha chế thức uống có tác dụng làm mát, giải độc cơ thể.[2]

Độc tính và cẩn trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Mủ gòn không có độc tính. Tuy nhiên, tính mát và nhuận trường, hai ưu điểm của các loại mủ này có thể gây ra một số phản ứng phụ.[2]

Cẩn trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Không nên lạm dụng ăn quá nhiều mủ gòn gây mất cân bằng âm dương cơ thể (theo Đông y).[2]

Đặc biệt, phụ nữ có thai không nên dùng mủ gòn để tránh sẩy thai.[2]

Nếu dùng đủ nước khi pha chế hoặc khi ngâm nước vội khiến mủ nở không hết thì khi vào dạ dày, mủ gòn cũng có thể trương nở gây tắc ruột.[2]

Chỉ dùng mủ gòn được chế biến và bảo quản hợp vệ sinh.[2]

Pha chế[sửa | sửa mã nguồn]

Mủ gòn có thể ăn chung với nước đường cùng các loại sâm khác, nấu chè, nấu thức uống rất đa dạng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]