Ngừng tim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cardiac arrest
Phân loại và tư liệu bên ngoài
Mô phỏng một ca cấp cứu ngừng tim bằng phương pháp hồi phục tim phổi.
ICD-10 I46.
ICD-9 427.5
DiseasesDB 2095
MeSH D006323

Ngừng tim còn gọi là ngừng tim phổi hoặc ngừng tuần hoàn là chấm dứt sự lưu thông bình thường của máu do tim ngừng đập.[1] Hiện tượng cơ tim ngừng co bóp kéo dài ít nhất 60 giây làm cho tuần hoàn bị tê liệt. Ngừng hô hấp bắt đầu khoảng 20 – 60 giây sau ngừng tim.

Do hệ tuần hoàn ngừng hoạt động dẫn đến ngừng cung cấp oxy cho cơ thể. Thiếu oxy lên não gây ra mất ý thức, sau đó dẫn đến hô hấp bất thường hoặc ngừng thở. Nếu ngừng tim không được điều trị trong hơn năm phút có thể dẫn đến tổn thương não.[2][3][4] Cơ hội duy nhất để bệnh nhân sống sót và phục hồi thần kinh là phải điều trị quyết đoán ngay lập tức.[5]

Ngừng tim khác với nhồi máu cơ tim. Nhồi máu cơ tim là do lưu lượng máu đến cơ tim bị giảm sút, tuy nhiên nó có thể gây ra ngừng tim.[6]

Ngừng tim là một trường hợp cấp cứu y khoa, trong những tình huống nhất định bệnh nhân có khả năng hồi phục nếu được điều trị sớm. Ngừng tim bất ngờ có thể dẫn đến tử vong trong vòng vài phút: được gọi là đột tử tim (SCD).[1] Cấp cứu ngừng tim có thể sử dụng phương pháp khử rung tim (defibrillation) bằng máy sốc điện ngay lập tức, hoặc sử dụng phương pháp hồi sức tim phổi để hỗ trợ tuần hoàn và/hoặc tạo nhịp tim.

Dấu hiệu và triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ bản dựa vào 3 yếu tố:

  1. Không bắt được mạch bẹn, hoặc mạch cảnh.
  2. Không có tiếng tim (nhanh chóng áp sát tai vào phía trên – trong mỏm tim để nghe).
  3. Không ý thức: bất tỉnh nhân sự và té ngã (trừ khi bệnh nhân đã hôn mê từ trước đó). Chú ý: Đánh giá ý thức người bệnh (xem người bệnh có phản ứng hay không) không nên lay đầu, cổ người bệnh (trừ khi đã biết đích xác không chấn thương).

- Theo dõi tiếp sẽ thấy xuất hiện:

  • Da nhợt, các đầu chi lạnh ẩm.
  • Rối loạn hô hấp kiểu thở chu kỳ hoặc ngừng thở.
  • Nếu đồng tử giãn cả 2 bên, rồi chuyển thành đồng tử không phản ứng là dấu hiệu xấu.

Xử trí[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm hồi sinh cơ bản và hồi sinh tim cao cấp.

HỒI SINH CƠ BẢN

Mục tiêu là cung cấp oxy cho não và tim cho đến khi có thể thực hiện được điều trị quyết định (các biện pháp hỗ trợ tim cao cấp). Nếu không thực hiện kỹ thuật hồi sinh cơ bản đúng cách thì biện pháp hỗ trợ tim cao cấp sẽ trở nên vô ích. Thứ tự quy trình 3 bước ABC. Bao gồm: A: khí đạo (Airway); B: thở (Breathing); C: tuần hoàn (Circulation).

Chưa đạt A thông suốt thì làm ngay B là vô ích và không có B thì C cũng là vô ích.

A- KHAI THÔNG ĐƯỜNG THỞ

Nếu phải lật người bệnh đang nằm sấp, phải lật toàn khối (đầu, cổ và lưng cùng di chuyển).

Mở miệng người bệnh. Hút, lau, móc đờm dãi và vật cản.

Răng giả, hàm giả thì để nguyên tại vị trí cũ vì sẽ dễ làm phương pháp kề miệng – miệng hơn.

Nếu không nghi ngờ chấn thương cột sống cổ thì nên dùng thủ thuật nâng cằm – đẩy trán lùi: Đặt ngón trỏ và ngón giữa của một bàn tay dưới cằm người bệnh và nâng hàm dưới về phía trước (có tác dụng nâng lưỡi lên khỏi thành họng sau và mở đường thở). Đồng thời lòng bàn tay còn lại ấn mạnh trán người bệnh xuống làm đầu của người bệnh ngửa hẳn về phía sau. Đầu để ngửa tối đa (có khi để đầu thõng ra ngoài phản nằm). Nếu nghi ngờ có chấn thương gãy đốt sống cổ, tránh đẩy đầu mà chỉ dùng thủ thuật nâng hàm để tránh khả năng làm tổn thương tủy sống: Dùng các ngón tay của hai bàn tay, mỗi tay một bên, nắm lấy góc hàm và đẩy hàm ra phía trước.

Kiểm tra xem có hơi thở tự ý của người bệnh không khi đường thở đã thông bằng cách ghé tai trên miệng người bệnh để nghe hơi thở, đồng thời quan sát cử động của lồng ngực.

B- THỔI NGẠT

Thổi ngạt miệng – miệng: Dùng ngón trỏ và ngón cái của bàn tay đang để trên trán bóp nhẹ 2 cánh mũi để đóng kín mũi người bệnh. Áp chặt miệng vào miệng của người bệnh và thổi 2 hơi chậm (mỗi hơi dài 1 – 2 giây).

Có thể thổi ngạt nhiều cách khác: Thổi ngạt miệng – mũi, thổi qua canule hoặc bóp "ambu": ambu là quả bóng tự phồng trở lại được, nối với một mặt nạ trùm cả mũi miệng người bệnh, có thể nối hệ oxy.

Tốc độ thổi ngạt 10 – 20 lượt thổi chậm /phút. Không thổi nhanh với áp lực mạnh vì như thế sẽ dễ làm phồng dạ dày. Thổi một thể tích đủ lớn để làm ngực của người bệnh nâng lên và duy trì được ở mức độ đó 2 giây. Điều này thể hiện qua cử động lên xuống của ngực và qua việc phát hiện được khí thoát ra sau mỗi động tác thổi ngạt.

Trở ngại thường gặp là khí không qua do vị trí của cằm hay đầu không thích hợp: Vậy đặt lại vị trí của đầu và cằm rồi thông khí lại.

Nếu vẫn không thể thổi ngạt được dù đã 2 lần chỉnh lại đầu và cằm thì thực hiện thủ thuật Heimlich: đặt các ngón của một bàn tay lên thượng vị phía trên rốn một chút (ngón bàn tay khác chùm lên bàn tay đó để chủ động lực đẩy). Đẩy mạnh và nhanh về phía cột sống và về phía đầu người bệnh 6 – 10 cái (tránh làm tổn thương các nội tạng). Móc các dị vật trong miệng người bệnh ra, đồng thời nắm lưỡi và hàm dưới của người bệnh thành một khối kéo ra phía trước và phía dưới người bệnh, lại đưa ngón trỏ của bàn tay khác lần theo mặt trong má người bệnh đi sâu tới đáy lưỡi móc nốt dị vật. Rồi thử thổi ngạt trở lại.

Nếu không khai thông được, có khi phải mở sụn giáp, thông khí qua khí quản.

C- NHẤN ÉP TIM

Nguyên lý là sự nhấn ép (hoặc ấn, nén, hoàn toàn không "xoa bóp") lên quả tim nằm tựa lên nền một cột sống cố định trên mặt phẳng cứng (người bệnh đã được đặt trên một nền, phản … cứng).

Người cấp cứu đứng dưới đất hay quỳ trên cùng mặt phẳng cứng người bệnh nằm, nhưng khi hơi nghiêng phía trước thì 2 vai ở vừa đúng phía trên lồng ngực nạn nhân theo hướng thẳng đứng; như thế bác sĩ tận dụng được trọng lượng ½ người trên của mình cho nhấn ép dễ dàng hơn. Hai cánh tay và hai cẳng tay luôn giữ duỗi thẳng, thả xuống thẳng đứng và vuông góc với xương ức người bệnh. Hai gót 2 bàn tay chồng lên nhau đặt vừa sát tới 1/3 dưới của xương ức, không xuống dưới hơn nữa tức ngay trên mũi kiếm vì sẽ ít hiệu quả, mà còn tổn thương gan. Cường độ ép ngực được xem là đủ mức nếu bắt được mạch cảnh (1 người khác bắt hộ), mạch bẹn, hoặc tạo được sóng trên ĐTĐ. Đối với trẻ em dùng cường độ của một tay, đối với trẻ sơ sinh dùng cường độ của 2 ngón tay cái. Ép xương ức của người bệnh xuống 4 – 5 cm, ấn thẳng xuống về phía cột sống. Phải ấn nhẹ và đều đặn, thời gian ấn và thời gian buông ra bằng nhau. Sau mỗi lần ấn phải hoàn toàn không còn áp lực lên ngực người bệnh nữa, tuy nhiên 2 bàn tay vẫn tiếp xúc với lồng ngực người bệnh.

Tần số ép ngực được đề nghị là > 70 lần/phút (> 100 lần/phút đối với trẻ nhỏ). Khi chỉ có 1 người thì cứ ép ngực 15 lần rồi thổi ngạt 2 lần. Nếu có 2 người thì tỷ lệ ép ngực – thổi ngạt là 5:1 (cứ ép ngực 5 lần lại ngừng 1 – 2 giây để thổi ngạt 1 lần). Đến khi người bệnh đã được đặt nội khí quản, có thể thông khí với tốc độ 12 – 15 lần/phút, và ép ngực cứ liên tục, không cần ngừng. Những khoảng ngừng ngắn: 5 giây sau phút đầu tiên, và mỗi 2 – 3 phút sau đó, để xác định xem người bệnh có tự thở lại hay tuần hoàn đã tự hoạt động lại hay chưa. Không được ngừng hồi sinh cơ bản quá 5 giây. Đặt nội khí quản trong vòng không quá 30 giây và sau đó nhấn ép tim ngay. Nếu nhấn ép thành công, mạch đã tự đập trở lại (bắt mạch cảnh, hoặc bẹn, hoặc nghe trực tiếp ở tim, ít nhất trong 5 giây), nhiều khi vẫn cần tiếp tục thổi ngạt một thời gian.

HỒI SINH TIM CAO CẤP

Hồi sinh tim cao cấp chỉ có ý nghĩa nếu trước đó hồi sinh cơ bản được thực hiện đầy đủ. Có thể coi nội dung hồi sinh tim cao cấp bao gồm những vấn đề theo trình tự D, E, F, G, H, I, K; D: chẩn đoán (Diagnosis), E: sốc điện, tạo nhịp bằng kích thích điện (Electro-shock, Electro-stimulation), F: dược trị liệu (Farmacotherapia), G: khí máu (gases), H: hạ huyết áp (Hypotension), I: ion đồ (Ion), trong đó rất chú ý ion K+.

DsTuAnh (thảo luận) 04:28, ngày 1 tháng 6 năm 2013 (UTC)DSTuAnh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Jameson, J. N. St C.; Dennis L. Kasper; Harrison, Tinsley Randolph; Braunwald, Eugene; Fauci, Anthony S.; Hauser, Stephen L; Longo, Dan L. (2005). Harrison's principles of internal medicine. New York: McGraw-Hill Medical Publishing Division. ISBN 0-07-140235-7. 
  2. ^ Safar P (December năm 1986). “Cerebral resuscitation after cardiac arrest: a review”. Circulation 74 (6 Pt 2): IV138–53. PMID 3536160. 
  3. ^ Holzer M, Behringer W (April năm 2005). “Therapeutic hypothermia after cardiac arrest”. Curr Opin Anaesthesiol 18 (2): 163–8. doi:10.1097/01.aco.0000162835.33474.a9. PMID 16534333. 
  4. ^ Safar P, Xiao F, Radovsky A, et al. (January năm 1996). “Improved cerebral resuscitation from cardiac arrest in dogs with mild hypothermia plus blood flow promotion”. Stroke 27 (1): 105–13. doi:10.1161/01.STR.27.1.105. PMID 8553385. 
  5. ^ Rippe, James M.; Irwin, Richard S. (2003). Irwin and Rippe's intensive care medicine. Hagerstwon, MD: Lippincott Williams & Wilkins. ISBN 0-7817-3548-3. 
  6. ^ Mallinson, T (2010). “Myocardial Infarction”. Focus on First Aid (15): 15. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2010.