Ngữ dụng học

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngữ dụng học là một chuyên ngành thuộc ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp để đạt tới một mục đích nhất định. Nó quan tâm đến việc vì sao việc truyền đạt nghĩa không chỉ phụ thuộc vào các kiến thức ngôn ngữ học như ngữ pháp, từ vựng... của người nói và người nghe mà còn phụ thuộc vào ngữ cảnh của phát ngôn, hiểu biết về vị thế của các nhân vật hữu quan và ý đồ giao tiếp của người nói... Nói cách khác, ngữ dụng học là ngành khoa học nghiên cứu ngữ nghĩa trong bối cảnh giao tiếp.

Ngữ dụng học cũng tham gia vào việc giải quyết những phương thức để đạt được mục đích trong giao tiếp. Chẳng hạn muốn nhờ một người bạn đóng cửa, ta có thể nói: "Đóng hộ mình cái cửa một cái!". Đây là phát ngôn cầu khiến trực tiếp và nghĩa của nó rất rõ ràng. Song, cũng với mục đích này, ta cũng có thể nói: "Ở đây có vẻ lành lạnh nhỉ!". Hàm ý của phát ngôn này giống với phát ngôn trước nhưng đây là lối nói gián tiếp, do đó, đòi hỏi một quá trình suy ý dụng học để tiếp cận được nghĩa đích thực của phát ngôn.

Quá trình hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy là một ngành mới xuất hiện trong hệ thống ngôn ngữ học nhưng những vấn đề của ngữ dụng học đã được quan tâm từ rất lâu. Ngay từ thời Hi Lạp cổ đại, Aristote đã phát triển môn tu từ học cổ điển, trong đó nhấn mạnh đến việc vận dụng từ ngữ trong những tương tác thực tế để đạt đến những hiệu quả giao tiếp.

Năm 1913, nhà tín hiệu học Ch.S. Peirce khẳng định rằng khi nghiên cứu một tín hiệu, cần phải quan tâm đến cả ba bình diện gồm kết học, nghĩa học và dụng học. Ngữ dụng học hiện đại được xem là một phản ứng của giới ngôn ngữ học trước những luận điểm cấu trúc luận cực đoan của Ferdinand de Saussure. Saussure nêu ra những cặp lưỡng phân nổi tiếng trong ngôn ngữ, trong đó phải kể đến là ngôn ngữ/lời nói; nội tại/ngoại tại. Ông đề cao ngôn ngữ, tập trung sự chú ý vào ngôn ngữ học nội tại và sao lãng những thứ thuộc về ngoại tại.

Vào đầu thập niên 1960, cùng với sự xuất hiện của lí thuyết hành động ngôn từ(speech act theory) do J.L. Austin và J.Searle khởi xướng, ngữ dụng học bắt đầu bước vào thời kì phát triển mạnh mẽ, giải đáp và khám phá rất nhiều những địa hạt mới mẻ của ngôn ngữ học. Từ đây, ngôn ngữ học đã được mở rộng phạm vi quan tâm, bao quát đến từng lời nói cụ thể, từng giao tiếp cụ thể của con người.

Một số lí thuyết cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hành động ngôn từ (do Austin và Searle đề xuất)
  • Phương châm giao tiếp (do Paul Grice đề xuất)
  • Lí thuyết lịch sự (do Lakoff, Leech, Brown và Levinson phát triển)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]