Nghi Tần họ Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nghi Tần họ Thành (宜嬪成氏, 의빈 성씨, ŭipin Sŏngssi 1753-1786) hay Nghi Tần Thành thị, là một hậu cung thuộc Nội mệnh phụ của vu Triều Tiên Chính Tổ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nghi Tần sinh ngày 8 tháng 7 năm 1753, là tiểu nữ của Seong Yun-u và Phu nhân họ Thẩm. Bà được tuyển vào Hoàng cung để đào tạo thành một cung nữ hầu hạ trong Vương Thất. Sau đó bà được phong làm Thương Nghi (상의 hoặc尙仪), trở thành người thân cận của Hòa tần họ Doãn ở Nam Nguyên (和嬪尹氏, 화빈 윤씨, Hwabin Yunssi 1765-1824), một hậu cung khác của Chính Tổ.

Năm 1781, bà được nhà vua sủng ái và phong làm Thượng cung (상궁), tức ngũ phẩm trong Nội mệnh phụ, thuộc hàng Cung quan. Trong tháng 9 năm 1782, bà được nâng lên hàng Chính tam phẩm Chiêu dung (소용,昭容) và chính thức trở thành Hậu cung. Cùng lúc đó bà hạ sinh Vương tử và đứa bé được phong làm Nguyên tử (đích tử con của Vương Phi) ngay sau đó 3 tháng. Chính vì thế, bà một lần nữa được nâng lên hàng Chính nhất phẩm Tần (빈,嫔), phong hiệu Nghi, gọi là Nghi Tần. Ngày 2 tháng 7 năm 1784, Vương tử được phong làm Văn Hiếu Thế tử (Tức người kế vị) nhưng Thế tử qua đời 11 tháng 5 năm 1786 khi chỉ mới 4 tuổi.

Bốn tháng sau đó, ngày 14 tháng 9 năm 1786, bà qua đời khi đang mang thai đứa con thứ ba. Nghi tần họ Thành được chôn cất cùng con trai là Văn Hiếu Thế tử ở Hiếu Xương viên sau là Hiếu Xương công viên. Sử sách ghi chép lại rằng vua Chính Tổ đã vô cùng sửng sốt và không thể ghi nhớ bất cứ điều gì trong 10 ngày.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn Hiếu thế tử (리 양, 1782 - 1786)
  • Ông Chúa chưa đặt tên (1784 - mất khi chưa tròn 1 tuổi)
  • Một vương tử chưa sinh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]