Nhóm đất phèn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nhóm đất phèn hay nhóm đất phù sa phèn, tên theo phân loại của FAOThionic Fluvisols là tên gọi dùng để chỉ nhóm đất có chứa các vật liệu mà kết quả của các tiến trình sinh hoá xảy ra là axít sulfuric được tạo thành hoặc sẽ sinh ra với một số lượng có ảnh hưởng lâu dài đến những đặc tính chủ yếu của đất (Pons, 1973).

Đất phèn thường có màu đen hoặc nâu ở tầng đất, mặt. Đất thường bị glay mạnh ở tầng C, có mùi đặc trưng của lưu huỳnh và H2S.

Phân loại

Dựa trên sự hình thành và phát triển của đất, Pons (1973) đã chia đất phèn ra làm hai loại:

Hình thành và phát triển đất phèn[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại đất và trầm tích dễ trở thành đất phèn nhất là các loại được hình thành trong phạm vi 10.000 năm trở lại đây, sau sự kiện dâng lên của nước biển (biển tiến) lớn nhất gần đây. Khi mực nước biển dâng lên và làm ngật đất, sulfat trong nước biển trộn lẫn với các trầm tích đất chứa các ôxít sắt và các chất hữu cơ[1]. Trong các điều kiện hiếm khí này, các vi khuẩn ưa phân hủy các chất vô cơ như Thiobacillus ferrooxidans tạo ra các sulfua sắt (chủ yếu là dạng pyrit)[1]. Tới một thời điểm nhất định, nhiệt độ ấm hơn là điều kiện thích hợp hơn cho các vi khuẩn này, tạo ra một tiềm năng lớn hơn cho sự hình thành của các sulfua sắt. Các môi trường ngập nước vùng nhiệt đới, chẳng hạn các khu rừng đước hay các khu vực cửa sông, có thể chứa hàm lượng pyrit cao hơn so với các môi trường tương tự nhưng ở vùng ôn đới[2]

Pyrit là ổn định cho tới khi nó bị lộ ra ngoài không khí, từ thời điểm này thì pyrit bị ôxi hóa và sinh ra axít sulfuric. Ảnh hưởng của đất phèn có thể kéo dài trong một khoảng thời gian lớn, và/hoặc lên tới đỉnh theo mùa (sau thời kỳ khô hạn và khi bắt đầu có mưa). Tại một số khu vực, đất phèn đã thau chua từ khoảng 100 năm trước vẫn còn giải phóng ra axít, như tại Australia[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh
  • Bennema J. và Camargo M.N. 1979. Some remarks on Brazilian Latosols in relation to the Oxisols. Trong: Proceedings of the Second International Soil Classification Workshop. Phần I.
  • Beinroth F.H. và Paramanthan S. (chủ biên) Malaysia, 28-8 tới 1-9-1978. Soil Survey Division, Land Development Department, Bangkok. trang 233-261.
  • Driessen P.M. và R. Dudal, 1991. The major soils of the world. Lecture notes on their geography, formation, properties and use. Đại học Wageningen, Hà Lan và Đại học Katholieke Leuven, Bỉ. 310 trang.
  • Falkengren-Grerup U. và Bergkvist B.: 1995, Effects of acidifying air pollutants on soil/soil solution chemistry of forest ecosystems, Ann. Chim. 85, 317–327.
  • Lê Phát Quới, 2004. Basic of soil morphology in pedogenesis in the Plain of Reeds. Luận án tiến sĩ. UAF.
  • Mohr E.C.J., F.A. van Baren và J. van Schuylenborgh, 1972. Tropical soils. A comprehensive study of their genesis. Ấn bản lần 3. Mouton, The Hague. 481 trang.
  • Moorman F. R. và L. J. Pons, 1974. Characteristics of Mangrove soils in relation to their agricultural land use and potential. Proc. Int. Symp. on Biol. and Man. of mangroves. Quyển II, trang 529-547.
  • Morman F. R., 1961. The soils of the Republic of Vietnam, Bộ Nông nghiệp, Sài Gòn.
  • Nordstrom D.K. (1982): Aqueous pyrite oxidation and the consequent formation of secondary iron minerals. Trong Acid Sulfate Weathering (J.A. Kittrick, D.S. Fanning, L.R.
Tiếng Việt
  • Giáo trình tài nguyên đất - Khoa Môi Trường, Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh (2005)
  • Giáo trình Đất lâm nghiệp - Đại học Lâm nghiệp Việt Nam (2004)
  1. ^ a ă Identification & Investigation of Acid Sulfate Soils (2006), Department of Environment, Western Australia. Tra cứu từ portal
  2. ^ Acid Sulfate Soil Technical Manual 1.2 (2003), CSIRO Land & Water, Australia. Tra cứu từ CSIRO
  3. ^ Sammut J & Lines-Kelley R. (2000) Acid Sulfate Soils, ấn bản lần 2, Environment Australia, ISBN 0-7347-1208-1. Tra cứu từ booklet