Niệm Phật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Niệm Phật là một phép tu trong Phật giáo, thuộc về Tịnh Độ Tông. Niệm là tưởng nhớ, niệm Phật là tưởng nhớ đến danh hiệu Phật. Khi niệm Phật phải dồn hết tâm trí, ý nghĩ hướng về danh hiệu Phật ("Nam Mô A Di Đà Phật" hay "A Di Đà Phật"), hoặc hình dung tướng tốtcông hạnh của Phật. Chữ NIỆM trong Hán Văn là chữ tượng hình ghép từ 2 chữ: Chữ KIM ở trên và chữ TÂM ở dưới, chữ KIM có nghĩa là hiện tại. Như vậy, NIỆM PHẬT có nghĩa là phải dùng Tâm Hiện Tại mà niệm, tránh trường hợp miệng niệm mà tâm lại nghĩ tưởng chuyện khác. Bởi riêng hai chữ NIỆM PHẬT cũng đã cho ta thấy được thế nào là niệm Phật đúng cách.

Lợi ích của việc niệm Phật[sửa | sửa mã nguồn]

Niệm Phật để suy nghĩ đến tướng tốt đức hạnh của chư Phật mà noi theo tu tập, tự nhũ luôn sửa đổi để tâm tính ngày càng tốt hơn. Phật làm tâm hồn lắng dịu, bỏ dần tính ác, phát triển hạnh lành, quên đi đau buồn sợ hãi, đời sống được an vui, đem lại thiện nghiệp cho mình và mọi người.

Phương pháp niệm Phật[sửa | sửa mã nguồn]

Có 4 phương pháp niệm Phật:
1. Trì danh niệm Phật
2. Quán tượng niệm Phật
3. Quán tưởng niệm Phật
4. Thật tướng niệm Phật

Trì danh niệm Phật[sửa | sửa mã nguồn]

Trì danh niệm Phật là xưng niệm danh hiệu A Di Ðà Phật. Thiện Ðạo đại sư bảo: ‘Chỉ có con đường tắt tu hành là niệm Phật A Di Ðà’.
Các môn tu hành khác gọi là vượt tam giới theo chiều dọc như trùng sanh trong tre: đục dọc theo thân tre khó thoát ra, nên là đạo khó hành. Còn niệm Phật như trùng đục ngang ống tre thời dễ thoát ra, là vượt tam giới theo chiều ngang, gọi là đạo dễ hành. Pháp này được ví như đường tắt vì phương tiện thẳng chóng, thành công nhanh chóng.

Quán tượng niệm Phật[sửa | sửa mã nguồn]

Quán tượng niệm Phật: Bày biện tượng Phật, chú mục ngắm nhìn. Hiềm rằng có tượng mới quán được, rời khỏi tượng lại khó quán: Tịnh nhân dễ mất, giữ cho liên tục càng khó. Vì vậy, cổ đức bảo: ‘Tượng đi rồi lại là không, cho nên trở thành gián đoạn’.
Vì vậy, cách này chẳng tiện dụng như trì danh niệm Phật, lúc nào, chỗ nào cũng tu được.

Quán tưởng niệm Phật[sửa | sửa mã nguồn]

Quán tưởng niệm Phật: Như các phép quán dạy trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ: ‘Dùng con mắt trong tâm ta, tưởng đức Như Lai kia’. Khổ nỗi, tâm phàm phu tạp loạn, phù động, hiếm có lúc tịnh định, khó nhập pháp quán vi diệu. Vì vậy, mới nói: ‘Cảnh tế tâm thô, diệu quán khó thành’.
Do đó, cách này chẳng bằng trì danh tiện dụng dễ hành, chẳng nề thượng trí, hạ ngu, nào luận khổ, vui, rảnh, bận, ai cũng niệm được, kẻ nào cũng hành được.

Thật tướng niệm Phật[sửa | sửa mã nguồn]

Thật tướng niệm Phật: xa lìa các tướng sanh diệt, có, không, năng sở, ngôn thuyết, danh tự, tâm duyên... chuyên niệm tự tánh vốn sẵn đức Phật thiên chơn. Khốn nỗi, chúng sanh chưa thoát luân hồi, tâm sanh diệt niệm niệm tiếp nối như kinh Viên Giác dạy: ‘Chưa thoát luân hồi mà bàn đến Viên Giác thì tánh Viên Giác ấy cũng bị xoay chuyển. Ðã như vậy mà mong thoát được luân hồi thì quyết chẳng thể được’.
Kinh còn dạy: ‘Huống hồ là tâm cấu trược sanh tử chuyển vần chưa từng thanh tịnh, quán Viên Giác của Phật làm sao lãnh hội được’
Ví như loài trùng rất nhỏ chỗ nào cũng bu được, chẳng thể đậu trên lửa. Ví như tâm chúng sanh, duyên chỗ nào cũng được chỉ chẳng duyên nổi Bát Nhã. Bởi thế, ông Phật của Thật Tướng, tánh Viên Giác tuy chúng sanh sẵn đủ, nhưng bởi vọng tâm niệm niệm sanh diệt nên chẳng quán nổi. Vì vậy, trong kinh Quán Phật Tam Muội, Phật bảo phụ vương: Bổn đức của chư Phật: chơn như thật tướng v.v... chẳng phải là cảnh giới phàm phu hành nổi nên Phật khuyên phụ vương niệm Phật.
Do những điều trên, thấy được rằng: trong các pháp, pháp môn Niệm Phật được xem là đường tắt, trong bốn phép Niệm Phật, Trì Danh Niệm Phật lại là phương tiện rốt ráo nên được gọi là đường tắt nhất trong các đường tắt.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phật giáo Việt Nam
  • Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
  • Chương trình tu học bậc Hướng thiện.
  • Chú giải Kinh Vô Lượng Thọ - Hoàng Niệm Tổ