Sukima Switch

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sukima Switch
Nguyên quán Nhật Bản Nhật Bản
Thể loại J-pop, Pha trộn Jazz
Năm 2003–nay
Hãng đĩa Ariola Japan
Website Website chính thức
Thành viên hiện tại
Ōhashi Takuya
Tokita Shintarō

Sukima Switch (スキマスイッチ?) là một nhóm nhạc pha trộn jazz của Nhật Bản gồm bộ đôi thành viên chủ chốt là Ōhashi Takuya (大橋卓弥? sinh ngày 9 tháng 5, 1978)Tokita Shintarō (常田真太郎? sinh ngày 25 tháng 2, 1978), nhóm được thành lập vào năm 2003. Họ ký hợp đồng hợp tác với nhãn đĩa Ariola Japan của Sony Music Japan vào tháng 9 năm 2009.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi Ōhashi góp giọng ca, ghitar và harmonica thì Tokita chơi piano/nhạc cụ phím, cùng nhiều nhạc cụ khác và giám sát sản xuất. Hầu hết các phương tiện âm thanh phục vụ cho các album của họ được cung cấp và thực hiện bởi nhiều nghệ sĩ khách mời hay phòng thu. Cơ cấu ban nhạc của họ có thể so sánh với nhóm nhạc Mỹ Steely Dan. Các ca khúc của họ ảnh hưởng phần lớn bởi phong cách nhạc jazz (tương tự như Steely Dan), nhưng nó vẫn giữ được các yếu tố cốt lõi cùng những giai điệu pop đã rất phổ biến với công chúng Nhật.

Ca khúc "Zenryoku Shounen" của họ là bài hát chủ đề mở cho trò chơi Nintendo DS Moero! Nekketsu Rhythm Damashii Osu! Tatakae! Ouendan 2, phát hành ở Nhật Bản vào ngày 17 tháng 5, 2007. Bài hát cũng là một trong nhiều gói nhạc phẩm mở rộng phục vụ cho trò chơi Nintendo DS Daigasso! Band Brothers. Ca khúc "Shizuku" do Sukima Switch thực hiện là bài hát chủ đề mở đầu cho sê-ri anime Kemono no Souja Erin. Đĩa đơn thứ 12 của họ, "Golden Time Lover", là ba nhạc phẩm mở đầu cho loạt anime Fullmetal Alchemist: Brotherhood. Các ca khúc chủ đề trong bộ phim Rough cũng được trình bày bởi Sukima Switch. Ca khúc "Katamari on the Swing" của Ōhashi được sử dụng trong trò chơi PlayStation 3 Katamari Forever. Bài hát "Boku Note" được dùng làm ca khúc chủ đề chính thức cho bộ phim Đôrêmon: Thăm công viên khủng long năm 2006. Đĩa đơn thứ 13 của họ, "Ice Cream Syndrome", là ca khúc chủ đề kết thúc duy nhất cho phim Pokémon Phantom Ruler: Zoroark.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đĩa đơn đầu tay - view - 7 tháng 9, 2003
  • Đĩa đơn thứ hai - 奏 (Kanade) - 10 tháng 3, 2004
  • Đĩa đơn thứ ba - ふれて未来を (Furete Mirai wo) - 16 tháng 6, 2004
  • Đĩa đơn thứ tư - 冬の口笛 (Fuyu no Kuchibue) - 24 tháng 11, 2004
  • Đĩa đơn thứ năm - 全力少年 (Zenryoku Shōnen) - 20 tháng 4, 2005
  • Đĩa đơn thứ sáu - 雨待ち風 (Ame Machi Kaze) - 22 tháng 6, 2005
  • Đĩa đơn thứ bảy - ボクノート (Boku Note) - 1 tháng 3, 2006
  • Đĩa đơn thứ tám - ガラナ (Guarana) - 16 tháng 8, 2006
  • Đĩa đơn thứ chín - アカツキの詩 (Akatsuki no Uta) - 22 tháng 11, 2006
  • Đĩa đơn thứ mười - マリンスノウ (Marine Snow) - 11 tháng 7, 2007
  • Đĩa đơn thứ mười một - 虹のレシピ (Niji no Recipe) - 20 tháng 5, 2009
  • Đĩa đơn thứ mười hai - ゴールデンタイムラバー (Golden Time Lover) - 14 tháng 10, 2009
  • Đĩa đơn thứ mười ba - アイスクリームシンドローム (Ice Cream Syndrome) - 7 tháng 7, 2010

Album Mini[sửa | sửa mã nguồn]

  • Album Mini đầu tay - 君の話 (Kimi no Hanashi) - 17 tháng 9, 2003

Album[sửa | sửa mã nguồn]

  • Album đầu tay - 夏雲ノイズ (Natsugumo Noise) - 23 tháng 6, 2004
  • Album thứ hai - 空創クリップ (Kūsō Clip) - 20 tháng 7, 2005
  • Album thứ ba - 夕風ブレンド (Yuukaze Blend) - 29 tháng 11, 2006
  • Album xuất sắc nhất - グレイテスト・ヒッツ (Greatest Hits) - 1 tháng 8, 2007
  • Album thứ tư - ナユタとフカシギ (Nayuta to Fuyashigi) - 4 tháng 11, 2009

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]