Tàu ngầm lớp Walrus
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Khái quát về lớp tàu | |
|---|---|
| Xưởng đóng tàu: | Rotterdamsche Droogdok Maatschappij |
| Bên sử dụng: | |
| Lớp trước: | Tàu ngầm lớp Zwaardvis |
| Còn hoạt động: | 4 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Kiểu: | Tàu ngầm |
| Trọng tải choán nước: | 2.350 tấn khi nổi 2.650 tấn khi lặn 1.900 tấn tiêu chuẩn |
| Độ dài: | 67,73 m |
| Sườn ngang: | 8,4 m |
| Mớn nước: | 6,6 m |
| Động cơ đẩy: |
|
| Tốc độ: | 13 knot khi nổi / 20 knot khi lặn |
| Độ sâu thử: | 300 m |
| Thủy thủ đoàn đầy đủ: |
50 đến 55 |
| Hệ thống cảm biến và xử lý: |
|
| Vũ trang: |
|
Tàu ngầm lớp Walrus là loại tàu ngầm điện-diesel được phát triển vào cuối những năm 1970 để thay thế cho tàu ngầm lớp Dolfijn và lớp Zwaardvis cho lực lượng Hải quân Hoàng gia Hà Lan. Bốn chiếc đã được đóng tại xưởng đóng tàu Rotterdamsche Droogdok Maatschappij tính đến năm 2008 thì đây là loại tàu ngầm duy nhất phục vụ trong quân đội Hà Lan.
Lớp Walrus thay vì dùng bánh lái có dạng dấu + như các loại tàu ngầm trước đó thì chúng dùng thiết kế bánh lái theo dạng hình chữ x. Dang bánh lái này từng được hải quân Hoa Kỳ thử nghiệm trên chiếc tàu ngầm USS Albacore năm 1960, nhưng đến thời điểm hiện tại này thì chỉ có tàu ngầm lớp Walrus, lớp Sjöormen, lớp Collins và Kiểu 212A sử dụng dạng bánh lái này.
Liên kết ngoài[sửa]
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: Walrus class submarines |