Tần-bà-sa-la

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tần-bà-sa-la
Vua xứ Ma-kiệt-đà
Trị vì 543 TCN – 491 TCN
Kế nhiệm A-xà-thế
Thông tin chung
Vợ Kosala Devi
Các vợ khác
Hoàng tộc Nhà Hariyanka
Sinh 558 TCN
Mất 491 TCN
Tôn giáo Phật giáo

Tần-bà-sa-la, còn gọi là Bình-sa vương (558 TCN - 491 TCN) (sa. bimbisāra) là vua xứ Ma-kiệt-đà (sa., pi. magadha) từ năm 543 TCN tới khi qua đời và là một thành viên của hoàng tộc Hariyanka.[1] Ông lên ngôi năm 15 tuổi và gặp Phật Thích-ca Mâu-ni khi 25 tuổi. Tần-bà-sa-la là đệ tử đầu tiên của Phật trong hàng vua chúa, ông đã tặng cho Phật và Tăng đoàn một tu viện gần kinh đô Vương-xá (sa. rājagḱha).

Quan hệ với Đức Phật[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm (sa. siddhārtha gautama) thoát ly cuộc sống trần tục, một lần vua Tần-bà-sa-la trông thấy Cồ-đàm, một đạo sĩ khiêm tốn, đi khất thực trên trên đường phố của kinh đô Vương-xá. Trong thấy tướng mạo oai nghi và tư cách trang nghiêm sang trọng của đạo sĩ, vua Tần-bà-sa-la lấy làm cảm kích, sai người đi dò thăm. Khi được biết rằng thừa bữa, sau khi độ ngọ thì vị đạo sĩ ngụ tại Pandavapabbata, ông cùng đoàn tùy tùng tới viếng đạo sĩ để hỏi thăm. Khi được hỏi thăm về thân thế, nơi chốn, đạo sĩ Tất-đạt-đa Cồ-đàm trả lời:

Ngay phía trước đây, tâu đại vương, trên vùng Hy-mã-lạp-sơn (sa. himālaya), trong châu thành Kiêu-tát-la (sa. kośala, pi. kosala) của những gia tộc cổ kính, một quốc gia trường thịnh và phong phú, tôi xuất thân từ triều đại Thái-dương, dòng Thích-ca (sa. śākya). Tôi không luyến ái, chạy theo nhục dục ngũ trần. Nhận thức được hiểm họa của vui thú vật chất và thấy an toàn trong đời sống xuất gia, tôi đi tìm cái cao quý nhất và tâm tôi được an lạc.[2]

Vua Tần-bà-sa-la cung thỉnh đạo sĩ Cồ-đàm, sau khi chứng ngộ Đạo Quả, sẽ trở lại viếng thăm vương quốc Ma-kiệt-đà.

Đúng như lời hứa, sau khi thành đạt Đạo Quả Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật Thích-ca Mâu-ni, cùng các đệ tử A-la-hán từ Gaya tới kinh đô Vương-xá. Tại đây, Phật ngự trong một khu rừng gần điện Suppatittha.

Khi biết tin Phật đã về đến kinh thành, Tần-bà-sa-la liền dẫn hoàng hậu, thái tử, bá quan văn võ và hàng trăm đạo sĩ Bà La Môn đến khu rừng để yến kiết Phật. Nghe Phật thuyết giảng, tâm tư Tần-bà-sa-la vua bừng sáng, bao nhiêu nghi nan chất chứa trong lòng bấy lâu đã bị giải tỏa. Ông sụp lạy Phật và thưa rằng:

Bạch Thế Tôn! Thưở nhỏ trẫm có năm điều ước nguyện. Thứ nhất là được lên ngôi Vua; thứ hai là được gặp một thầy giác ngộ; thứ ba là có duyên may được kính ngưỡng vị giác ngộ ấy, thứ tư là được vị giác ngộ ấy dạy cho con đường chân chính; thứ năm là mình có đủ khả năng lãnh hội được giáo pháp do vị giác ngộ ấy chỉ dạy. Bạch Thế Tôn! Đến hôm nay thì cả năm điều ước ấy đều thành sự thật. Tẫm đã lãnh hội được giáo lí mà ngài vừa dạy. Xin Thế Tôn thương xót nhận trẫm làm đệ tử tại gia của ngài!

Nghe vậy, Phật hoan hỉ chấp thuận. Vua Tần-bà-sa-la thỉnh Phật và hàng ngàn tăng chúng tháp tùng Phật, sau đó vào hoàng cung để thọ lễ trai tăng do đích thân vua và hoàng hậu cúng dường. Có cả 6.000 tân khách được nhà vua mời đến cùng tham dự lễ. Sau lễ trai tăng, Phật thuyết pháp trước vua quan và tân khách.

Vua Tần-bà-sa-la nghĩ rằng khu Trúc Lâm của mình có thể hội đủ những yếu tố ấy nên dâng lên Phật và chư tăng khu rừng tre, được gọi là “nơi trú ẩn của loài sóc” này. Khu rừng này không có nhà cửa lều cốc cho Phật và chư tăng, nhưng lại có nhiều cây to che bóng mát và chỗ ẩn dật kín đáo. Dẫu sao, đây cũng là nơi đầu tiên được dâng cúng Phật và chư tăng.[3] Tại đây, giáo đoàn đã xây cất một tu viện đặt tên là Trúc Lâm Tự. Tại tu viện yên tĩnh này Phật nhập Hạ một lần ba năm liên tiếp và ba lần khác, vào ba Hạ xa cách nhau. Vua Tần-bà-sa-la rất siêng đến đây thăm Phật và nghe Phật pháp, và cho xây tại tu viện một giảng đường có thể chứa hơn 2000 người ngôi nghe Phật pháp.

Sau khi quy y, vua Tần-bà-sa-la sống đời gương mẫu của một đế vương. Ông đều đặn nghiêm trì tám giới (bát quan) trong sáu ngày giới (uposatha).

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Tần-bà-sa-la còn kết hôn với nhiều công chúa lân bang. Cụ thể hơn, chánh hậu của ông công chúa Vi-đề-hy, con gái vua Maha Kosala và em vua Ba-tư-nặc (sa. prasenadi) xứ Kiêu-tát-la. Bà sinh hạ cho ông vua A-xà-thế (sa. ajātaśatru, pi. ajātasattu) tương lai. Vợ thứ của ông, Chellana, vốn là một công chúa Lichchhavi người gốc Vaishali.[4] Vợ thứ ba của ông là con gái của tù trưởng bộ lạc Madra xứ Punjab.[5] Một bà quý phi khác, Khema, một tín nữ rất tinh tấn nhờ sự khéo léo của nhà vua. Về sau, bà Khema xuất gia.

Chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Tần-bà-sa-la đã gây chiến với vương quốc Anga để mở mang lãnh thổ. Sử liệu ghi nhận rằng ông thắng trận, giết được vua Brahamatta xứ Anga rồi sáp nhập Anga vào vương quốc Ma-kiệt-đà. Ông còn phong thái tử A-xà-thế làm Tổng đốc Anga.

Bị A-xà-thế ám sát hụt[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng năm 491 TCN, khi vua Tần-bà-sa-la đến 67 tuổi thì tai biến xảy ra: Thái tử A-xà-thế, do bị Đề-bà-đạt-đa xúi giục, âm mưu sát hại vua cha để chiếm ngôi. Một hôm, đang lúc đêm khuya, A-xà-thế đột nhập vào tẩm điện của vua cha. Thấy dáng vẻ khả ngi, ngự lâm quân liền giữ anh ta lại để xét, và tìm thấy một thanh gươm được giấu trong chéo áo của anh ta. Họ đưa A-xà-thế vào trình diện vua Tần-bà-sa-la, kể lại tự sự, và dâng thanh gươm cho ông xem. Khi Tần-bà-sa-la vặn hỏi thì A-xà-thế nói rằng, vì muốn làm vua nên định giết cha. Anh ta cũng nói rằng mình đã được Đề-bà-đạt-đa bày vẽ và sắp đặt mưu kế.

Vốn thầm nhuần sự từ bi của Phật Thích-ca, Tần-bà-sa-la không giận cả con trai lẫn Đề-bà-đạt-đa. Đã vậy, ông còn quyết định hạ chiếu thoái vị, nhường ngôi cho thái tử A-xà-thế. Vị tân vương sẽ làm lẽ 10 ngày sau đó. Làm như vậy, Tần-bà-sa-la hi vọng rằng A-xà-thế và Đề-bà-đạt-đa sẽ cảm thấy đức độ của mình mà hồi tâm hướng thiện.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà tù Bimbisara (en. bimbisara's jail), nơi vua Tần-bà-sa-la bị cầm tù, ở thành Vương-xá.

Vậy mà, thay vì hồi tâm hướng thiện, hai ngày sau khi Tần-bà-sa-la ban chiếu chiếu thoái vị, A-xà-thế đã bắt giam vua cha Tần-bà-sa-la vào ngục thất. Sau khi đăng quang, A-xà-thế nhất quyết không chịu thả vua cha ra, lại còn quyết tâm bỏ đói cho ông chết dần. Chỉ một mình Hoàng Thái hậu được phép vào thăm. Mỗi khi đi, bà giấu đồ ăn trong túi áo đem cho chồng. Việc này bị bại lộ và bà bị A-xà-thế quở trách. Về sau, bà lại giấu đồ ăn trong tóc. A-xà-thế cũng biết được. Cùng đường, bà tắm rửa sạch sẽ và thoa vào mình một thứ đồ ăn làm bằng mật ong, đường và sữa. Tần-bà-sa-la gợn lấy món ăn này để nuôi sống. Nhưng cũng bị A-xà-thế biết được. Anh ta cấm hẳn bà không được vào thăm vua cha nữa.

Lúc ấy, Tần-bà-sa-la vẫn cam chịu đói, không oán trách vua con. Nhớ lời Phật dạy, ông vẫn sống an lạc và bình thản, vẫn thiền hành theo hành lang nhà ngục, và thiền tọa nơi cửa sổ có chấn song sắt. Cửa số này ngó thẳng lên núi Linh Thứu, vì vậy nên hằng ngày ông ngồi rất lâu ở chỗ đó để nhìn núi.

Sau lần Phật bị Đề-bà-đạt-đa lăn đá mưu hại ở núi Linh Thứu, thì vua Tần-bà-sa-la cũng chết trong ngục thất. Cái chết của ông rất thê thảm: Nguyên vì thấy vua cha vẫn vui tươi, A-xà-thế nên hạ lệnh cho người thợ cạo vào khám, lấy dao bén gọt gót chân Tần-bà-sa-la, xát dầu và muối rồi hơ lên lửa nóng đến chết.

Khi thấy anh thợ cạo đến thì người cha bất hạnh mừng thầm, nghĩ rằng vua con đã ăn năn hối cải, cho người cạo râu tóc tới rước vua cha về. Nhưng, anh thợ cạo đến để thi hành lệnh của A-xà-thế. Vua Tần-bà-sa-la qua đời.[1]

Ông nhỏ hơn Phật Thích-ca 5 tuổi, ở ngôi được 52 năm và mất ở tuổi 67.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Stearns, Peter N. (2001) The Encyclopaedia of World History, Houghton Mifflin. tr. 76-78. ISBN 0-395-65237-5.
  2. ^ Sutta Nipata, Pabbajja Sutta
  3. ^ Phạn ngữ arama chỉ có nghĩa là một khu vườn, khu viên. Lúc đấy Phật Thích-ca Mâu-ni và chư tăng thọ lãnh vườn này, trên đó không có xây cất nhà cửa. Ngày nay danh từ arama được dùng để chỉ một tu viện, trong đó có nơi ở của chư tăng.
  4. ^ Luniya, Bhanwarlal Nathuram. (1967) Evolution of Indian Culture, Lakshmi Narain Agarwal. tr. 114.
  5. ^ Krishna, Narendra. (1944) History of India, A. Mukherjee & bros. tr. 90.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán