Talmud

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Talmud (/ tɑ ː lmʊd, - məd, ˈtæl-/;, tiếng Do Thái: תַּלְמוּד Talmud nghĩa là "giảng dạy, học tập", từ một gốc LMD " giảng dạy, nghiên cứu ") là một văn bản trung tâm của giáo sĩ Do Thái giáo (rabbinic). Nó cũng được gọi theo cách truyền thống là Shas (ש"ס), một từ viết tắt tiếng Do Thái của shisha sedarim, "sáu thứ bậc" của Luật Miệng của Do Thái giáo. Talmud có hai bộ phận: Mishnah (tiếng Do Thái:. משנה, năm 200 sau công nguyên), bản tóm đầu tiên bằng văn bản của Luật Miệng của Do Thái giáo, và Gemara (năm 500 sau công nguyên), giải thích cho tác phẩm Mishnah và liên quan tới các bài viết Tannaitic mà thường xuyên đề cập tới các đối tượng khác và được giải nghĩa rộng rãi trong Kinh Thánh Do Thái. Thuật ngữ Talmud và Gemara thường được sử dụng thay thế cho nhau, mặc dù không được chính xác cho lắm. Toàn bộ kinh Talmud bao gồm 63 bài luận, trong bản in tiêu chuẩn dài hơn 6.200 trang. Nó được viết bằng tiếng Tannaitic Do Tháitiếng Aram (tiếng Sy-ri). Talmud bao gồm những ý kiến của hàng ngàn giáo sĩ Do Thái trong nhiều chủ đề, bao gồm cả pháp luật, đạo đức, triết học, phong tục, lịch sử, thần học, truyền thuyết và nhiều chủ đề khác. Talmud là cơ sở cho tất cả các bộ luật của luật giáo đoàn Do Thái giáo và được nhiều trích dẫn trong các tài liệu giáo đoàn khác.

Một số câu trong Talmud[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Trí tuệ còn hơn cả sức mạnh cơ bắp, nhưng trí tuệ của người nghèo thì bị coi thường, anh ta nói cũng chẳng ai nghe."
  • "Một người hoặc một tập thể, nếu biết dựa vào sức mạnh của người khác thì sẽ nhanh chóng đạt được mục đích"

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ Quang Á, "Talmud - Tinh hoa trí tuệ Do Thái", 2011