Thất ngôn bát cú

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thơ thất ngôn bát cú là loại thơ mỗi bài có 8 câu và mỗi câu 7 chữ, tức là chỉ có 56 chữ trong một bài thơ thất ngôn bát cú.

Luật bằng trắc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thơ văn Trung đại các thanh điệu được chia thành 2 loại:

  • Thanh bằng là các chữ có dấu: huyền hay không dấu (thanh ngang)
  • Thanh trắc là những chữ có dấu là sắc,hỏi,ngã,nặng.

Cách sắp xếp các thanh bằng, trắc theo kiểu "Nhất, tam, ngũ bất luận. Nhị, tứ, lục phân minh" và xen kẽ nhau. Tức là nếu tiếng thứ 2 là thanh bằng thì tiếng thứ 4 là thanh trắc, tiếng thứ 6 thanh bằng và ngược lại.

  • Ví dụ:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
  • Thanh:..B...........T..........B.............
Trần thế em nay chán nửa rồi.
  • Thanh:..T...........B..........T
(Muốn làm thằng cuội, Tản Đà)

Luật thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Thông thường, thơ thất ngôn bát cú có thể làm theo 2 cách thông dụng :

  • Thất ngôn bát cú theo Đường luật : Có quy luật nghiêm khắc về Luật, Niêm và Vần và có bố cục rõ ràng.
  • Thất ngôn bát cú theo Cổ phong : Không theo quy luật rõ ràng, có thể dùng một vần (độc vận) hay nhiều vần (liên vận) nhưng vần vẫn phải thích ứng với quy luật âm thanh, có nhịp bằng trắc xen nhau cho dễ đọc.

Còn một cách khác là theo Hàn luật. Những bài thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm thường được gọi là thơ Hàn luật.

Một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật (hay đúng ra là Hàn luật vì là thơ Nôm) tiêu biểu :

"Qua Ðèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan :

(Chú ý cách gieo vần:Các tiếng cuối các câu 1,2,4,6,8 hiệp vần bằng với nhau.)

Bước tới đèo Ngang bóng xế
Cỏ cây chen lá, đá chen hoa
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại, trời non nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta .

Trong đó:

  • Hai câu đầu tiên (1 và 2) là Mở Đề và Vào Đề (mở bài, giới thiệu...)
  • Hai câu tiếp theo (3 và 4) là hai câu Thực (miêu tả), yêu cầu của 2 câu này là đối nhau cả về thanh (bằng đối trắc hoặc ngược lại) và về nghĩa (Lom khom - Lác Đác, Dưới núi - Bên sông, Tiều vài chú - Chợ mấy nhà)
  • Hai câu 5 và 6 là hai câu Luận (suy luận), yêu cầu cũng đối nhau cả về thanh và nghĩa, tương tự như hai câu Thực ở trên
  • Hai câu cuối cùng (7 và 8) là hai câu Kết (kết luận), không yêu cầu đối nhau.

Cách ngắt nhịp: 2/2/3 hoặc 4/3