Thổ phục linh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thổ phục linh
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Monocots
Bộ (ordo) Liliales
Họ (familia) Smilacaceae
Chi (genus) Smilax
Loài (species) S. glabra
Danh pháp hai phần
Smilax glabra
Roxb.

Thổ phục linh (danh pháp khoa học: Smilax glabra) còn được gọi là dây khum, hồng thổ linh, sơn trư phấn, sơn kỳ lương, linh phạn đoàn là một loài cây leo, thân mềm, không gai thuộc họ Smilacaceae. Lá hình trứng, gốc lá hơi hình tim, mọc so le, có cuống dài, mang tua cuốn. Cụm hoa hình táng, mọc ở kẽ lá, có cuống dài. Hoa màu hồng hoặc điểm chấm đỏ gồm hoa đực và hoa cái riêng biệt. Quả hình tròn, đường kính 8 đến 10mm, khi chín thường có màu đen, quả có 2 đến 4 hạt hình trứng.

Cây thuốc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đỗ Tất Lợi, thổ phục linh là thảo dược có vị ngọt, nhạt, tính bình, tác dụng vào 2 kinh can và vị. Thổ phục linh có tác dụng khử phong thấp, lợi gân cốt, chữa đau khớp xương, trừ sưng thũng[1].

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Người Hoa dùng thổ phục linh để chế biến một số món ăn hoặc tráng miệng như cao quy linh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2005, trang 498-499.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]