Thiên để

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Biểu đồ chỉ ra mối quan hệ giữa thiên đỉnh, thiên để và các kiểu khác nhau của đường chân trời. Lưu ý là thiên để luôn ngược lại với thiên đỉnh.

Trong thiên văn học, thiên để (gốc chữ Hán: 天底, thiên = trời, để = đáy), một cách nôm na, là điểm (không trực tiếp thấy được bằng mắt thường) của bầu trời nằm thẳng dưới chân người quan sát.[1]

Chính xác hơn, các cách định nghĩa sau đều tương đương:

Một số từ điển Anh-Việt[2] dịch sai thành thiên đề hay thiên đế; tuy nhiên cách đọc này không đúng nghĩa Hán-Việt.

Với các vệ tinh nhân tạo bay quanh hành tinh, trạng thái quan sát thiên để (nadir observation, nadir mode) là trạng thái với các thiết bị quan sát hướng về phần bề mặt hành tinh gần vệ tinh nhất[3]. Trạng thái này cho phép quan sát bề mặt hay phần khí quyển gần rõ nhất, sử dụng tính toán đơn giản do có thể xấp xỉ bề mặt và phần khí quyển gần là các lớp phẳng. Tuy nhiên trạng thái quan sát này khó phân định tín hiệu từ các lớp khí quyển khác nhau bằng quan sát thụ động.

Các tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài và ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Nadir definition”. Từ điển trực tuyến Miriam Webster. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  2. ^ Từ điển của Hồ Ngọc Đức
  3. ^ “The Common Berthing Mechanism (CBM) for International Space Station”. Society of Automotive Engineers, Inc. 2001. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008.