Thiền siêu việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Illustration for TM

Thiền Siêu Việt (tên tiếng Anh là Transcendental Meditation viết tắt là TM[1]) là kỹ thuật thiền dùng mantra luyện trí não làm tâm trí lắng đọng tới tầng thâm sâu nhất trong tiềm thức của con người nhằm phát huy toàn bộ tiềm năng của não. Bên cạnh đó vì bộ nãocơ thể có mối liên hệ mật thiết với nhau nên trong quá trình tâm trí tĩnh lặng và lắng xuống tầng thâm sâu hơn và khi đạt đến trạng thái tĩnh lặng nhất thì cơ thể đạt tới trạng thái nghỉ ngơi sâu nhất.[2]

Theo các chứng minh y học thì khi cơ thể đạt tới trạng thái nghĩ ngơi sâu nhất hệ thần kinh tự động xua đi những gì là yếu tố ngoại bang xâm nhập vào cơ thể mà không phù hợp cho cơ thể, cho dù chúng đã tích tụ lâu và sâu trong cơ thể, do vậy hệ thần kinh được trong sạch, cơ thể được khoẻ mạnh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Maharishi Mahesh Yogi ở Huntsville, Canada tháng 1 năm 1978

Theo học giả tôn giáo Kenneth Boa (1990)[3] trong cuốn sách của mình-Giáo phái, Thế Giới Tôn GiáoHuyền Bí (Cults,World Religions and the Occult]) ông viết Kỹ Thuật Thiền Siêu Việt là kỹ thuật bắt nguồn từ trong các trường học về Khoa học Vệ Đà của Ấn Độ, nhiều lần khẳng định ông nói về sách của Maharishi như Khoa học Sự Sống và Nghệ Thuật Sống và Bình luận về Bhagavad Gita. Boa đã viết: Maharishi Mahesh Yogi "làm rõ" rằng Thiền Siêu Việt được đem đến cho loài người khoảng 5.000 năm trước bởi thần Hindu Krishna. Kỹ thuật này sau đó bị mất, nhưng phục hồi trong một thời gian bởi Đức Phật. Nó đã bị thất truyền một lần nữa, nhưng được tái phát hiện trong thế kỷ thứ 9 sau Công Nguyên và được nhà triết học Hindu-Shankara lưu truyền một thời gian. Cuối cùng, nó đã được hồi sinh bởi Brahmananda Saraswati (Guru Dev) và chân truyền lại cho Maharishi vào năm 1941.Sau đó Maharish đã đơn giản hóa phương pháp này để mọi tầng lớp công chúng đều có thể thực hành một cách dễ dàng.
Maharishi đã phát triển Khoa học trí tuệ sáng tạo - Science of Creative Intelligence (SCI) - một hệ thống các nguyên tắc lý thuyết để làm nền tảng kỹ thuật thiền này. Những công nghệ bổ sung cũng được thêm vào chương trình Thiền Siêu Việt, trong đó có "những kỹ thuật nâng cao" như chương trình TM-Sidhi (kể cả Yoga bay). TSV đã được báo cáo là một trong những kỹ thuật được áp dụng rộng rãi nhất trong số các kỹ thuật thiền đã được nghiên cứu.

Tương tự George Chryssides tìm ra rằng Maharishi và Guru Dev xuất thân từ truyền thống Shankara của Advaita Vedanta.[4]

Peter Russell trong "Kỹ thuật Thiền Siêu Việt" nói rằng Maharishi tin rằng từ thời của kinh Vệ Đà, kiến thức này hết lần này đến lần khác bị mất rồi lại được tìm thấy nhiều lần, như được mô tả trong phần giới thiệu các bình luận của Maharishi về Bhagavad-Gita. Sự hồi sinh của kiến thức chủ yếu tái sinh trong Bhagavad-Gita, và trong những lời dạy của Đức Phật và Shankara.[5] Chryssides lưu ý rằng, ngoài việc phục hưng của kỹ thuật Thiền Siêu Việt bởi Krishna, Đức Phật và Shankara, Maharishi cũng rút ra được từ Yoga Sutra của Patanjali khi phát triển kỹ thuật Thiền Siêu Việt.[4]

Bromley cũng cho rằng kỹ thuật này dựa trên Triết lý Khoa học cổ đại Ấn Độ và sự truyền dạy từ Krishna, Đức Phật, và Shankara. Vimal Patel cũng đã viết rằng Maharishi cũng rút ra được từ Yoga Sutra của Patanjali khi phát triển kỹ thuật Thiền Siêu Việt.

Theo thầy Phúc Minh:"Đặc biệt trong 50 năm qua, các nước phương tây đã áp dụng thiền tiên nghiệm TM (Transcendental Meditation) cho nghiên cứu y học và ứng dụng trị liệu tại nhiều trung tâm thiền, bệnh viện, công tư sở và học đường.

Trong các trang Web của Chua Kim Quang - Aulnay Sous Bois - Phap [4] và Chùa Giác Ngộ- Q10, thành phố HỒ Chí Minh [5] thầy Phúc Minh có viết Thiền Siêu Việt (mà thầy dịch là Thiền Tiên Nghiệm) - TM do đạo sĩ Ấn Độ Maharishi Mahesh Yogi (1917-2008), theo truyền thống Vệ Đà, mang đến Âu Mỹ từ năm 1958. Chủ trương của Maharashi là tạo ra một trung tâm thiền TM cho mỗi một triệu người. Ông đã đào tạo gần 10,000 giảng viên ở khắp nơi. Nhờ kỹ thuật đơn giản trong ứng dụng nên loại thiền này rất được phổ biến. Cho đến nay đã có chừng 600 nghiên cứu khoa học và y học về thiền TM liên quan đến trị liệu đối với nhiều loại bệnh trạng khác nhau. Ngay trên đất Mỹ có một đại học mang tên Mahashiri.

Phương pháp chung là mỗi ngày hành thiền 2 lần, mỗi lần 15-20 phút, truớc bửa ăn (bụng trống dễ hành thiền hơn) với mắt nhắm lại. Phải do một người thầy hay giảng viên trực tiếp chỉ dạy và đặc biệt truyền cho câu mật chú mantra, để hành giả có thể niệm thầm hay niệm thành tiếng trong lúc hành thiền. Chương trình gồm có 7 thứ mục với 2 bài học giới thiệu, một cuộc phỏng vấn, và 4 buổi học (2 giờ) cho 4 ngày kế tiếp. Phương pháp thiền TM được cho là khá giản dị, tự nhiên và không gượng ép. Qua tiến trình hành thiền, hành giả sẽ đạt đến một ý thức tiên nghiệm được gọi là trạng thái chính yếu thứ 4 của ý thức, một trạng thái tỉnh thức hoàn toàn, khác biệt với 3 trạng thái: thức tỉnh, nằm mơ và ngủ say.

Thiền tiên nghiệm đã được đăng ký và bảo vệ với thương hiệu (trademark) TM, nên đã trở thành một loại sản phẩm thương mại. Vào thời điểm năm 2007, có nơi học viên phải đăng ký và đóng học phí đến 2.500 đô la cho một khóa học, kèm theo điều kiện không được tiết lộ câu mật chú mà người thầy đã truyền cho, với lý do là mật chú sẽ mất linh nghiệm nếu bật mí cho người khác biết. Tuy trung thành với chủ trương của hệ thống huấn luyện thiền TM, nhưng một số giảng viên khi viết tài liệu hay nghị luận cũng hé mở một số chi tiết về phép thiền này. Ví dụ chọn một nơi yên tịnh, ngồi nhắm mắt, giữ hơi thở tự nhiên, và nghĩ thầm mantra, có tính cách nhẹ nhàng và trung tính, ví dụ như "tỉnh thức", "thư giãn", v.v.. trong thời gian hành thiền 15-20 phút. Khi tâm xao động cần nhớ trở về với mantra và tiếp tục niệm như trước. Chỉ giản dị vậy thôi, nhưng cũng có tác dụng thư thái dễ chịu như một giấc nghỉ trưa 1-2 giờ.

Người tây phương hành thiền TM tự do rất thích các danh từ, một hình thức mantra, ví dụ như "peace" (hòa bình) và "love" (yêu thương). Nhưng cũng có khi đang niệm "love, love, love.." giữa chừng bất chợt thành ra "I love candy" (tôi thích ăn kẹo) thì phải làm sao? Đến lúc này chỉ cần nhớ lại mantra "love" và bắt đầu niệm trở lại cho tâm khỏi nhảy lăng xăng như con khỉ, "tâm viên ý mã" là như vậy."

Lúc đầu, kỹ thuật Thiền Siêu Việt đã được đưa vào các mục thuộc về tôn giáo trong những năm 1950, nhưng quan điểm này đã thay đổi mạnh mẽ do các xác minh khoa học trong những năm 1970. Sự thay đổi này đã được cho là một nỗ lực để cải thiện quan hệ công chúng của nó, và như là một cố gắng để cho phép kỹ thuật TSV (Thiền Siêu Việt)-TM (Transcendental Meditation) được giảng dạy trong các trường công.[6][7]

Thiền Siêu Việt [6] đã được Maharishi Mahesh Yogi (1914-2008) truyền bá ra thế giới vào giữa những năm 1950 bắt đầu tại Ấn Độ. Thiền Siêu Việt đã được nhiều người biết đến trên thế giới khi Maharishi bắt đầu chuyến du hành truyền bá của mình tới các nước ở châu Mỹ, châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Úc, và trở thành một phương pháp mang tính toàn cầu vào những năm 1960.

Sau hơn 50 năm được truyền bá ra thế giới, Thiền Siêu Việt đã đến với Việt Nam vào tháng 6 năm 2009 và đã được Trung Tâm Giao Lưu Văn Hóa Thế Giới - UNESCO giới thiệu, phổ biến tới công chúng Việt Nam qua những buổi hội thảo lớn với những dẫn chứng khoa học do các nhà khoa học hàng đầu thế giới nghiên cứuchứng minh tại những trường Đại Học như trường Đại học Boston, Đại học Cornell, Đại học George Washington, Đại học Harvard, Đại học Ohio, Đại học State, Đại học Pennsylvania State, Đại học Stanford, vân vân...; tại các Viện Nghiên Cứu Khoa Hoc như Viện Công Nghệ Massachusetts - Massachusetts Institute of Technology; các Bệnh viện; các Viện Y Tế như Viện Ý Tế CEDARS-SINAI - CEDARS-SINAI MEDICAL CENTER–Los Angeles, vân vân... tại 33 nước trên thế giới.

Cơ chế hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ thuật Thiền Siêu Việt cho phép bất cứ ai cũng có thể tiếp cận khu vực thức tỉnh yên tĩnh bên trong này một cách dễ dàng. Đây là một sự trải nghiệm dễ chịu, không chỉ có tác dụng chữa bệnh mà còn khơi dậy phần tiềm năng ngủ quên của não bô. Các tác dụng này đã được chỉ ra bởi hơn 600 nghiên cứu khoa học, được xuất bản trong những tạp chí y khoa hàng đầu, cho thấy sự cải thiện trong hầu hết mọi khía cạnh cuộc sống.

Theo các bác sĩ thì trong tiềm thức của con người có một khu vực dành cho sự giác ngộ thuần khiết, một khu vực yên tĩnh nhưng rất sinh động. Đây là nguồn năng lượng, sáng tạo, và hiểu biết ẩn chứa bên trong mỗi người. Nhưng hầu hết chúng ta đều không nhận thấy nó bởi vì chúng ta liên tục bị bao phủ bởi các hoạt động ồn ào của thế giới xung quanh chúng ta.

Thiền và ngồi thiền[sửa | sửa mã nguồn]

Việc thực hành liên tục sẽ giúp bạn giảm bớt những lo lắng trong cuộc sống hằng ngày; khi một cá nhân bắt đầu đưa ra các quyết định đúng đắn hơn về các hoạt động hàng ngày cá nhân đó có thể đối phó tốt hơn với stress. Do đó, theo thời gian, con người có thể đạt được khả năng không bị stress. Điều này có nghĩa là được thúc đẩy bởi các nhu cầu của tình huống thay vì phản ứng gây ra căng thẳng của chính con người đối với tình huống đó. Thay vì phản ứng với các thách thức như một mối đe dọa, con người coi các thách thức như một cơ hội để phát triển chuyên môncá nhân.

Một số khác cho rằng: việc trải nghiệm sự thức tỉnh yên tĩnh rất thoải mái và dễ chịu giúp bạn có thể ngồi yên tĩnh trong hai mươi phút hai lần một ngày. Khi thực hành đều đặn, Thiền sẽ giúp bạn giải tỏa căng thẳng bị tích tụ theo thời gian, và bạn sẽ ngày càng ít phải chịu căng thẳng và lo lắng hơn. Nhờ cách giảm căng thẳng này, tự nhiên tâm trí bạn sẽ được ổn định hơn khi bạn thiền và bạn không cảm thấy có nhu cầu phải đứng dậy và di chuyển xung quanh nữa. Việc trải nghiệm trực tiếp sự yên tĩnh và thanh thản sẽ xua tan những cảm giác lo lắng.

Có một điều đặc biệt ở Thiền Siêu Việt đó là khi ngồi thiền người thiền không cần gò ép bản thân ngồi theo tư thế nào cả như kiết già hay bán già, vân vân,... Người thiền chỉ cần ngồi với bất kỳ tư thế nào sao cho thấy thoải mái, dễ chịu, có thể dựa lưng, vân vân...

Tác dụng phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ thuật Thiền Siêu Việt giúp cho tinh thầnthể chất được thư giãn, giảm stress và lo lắng. Chẳng có lý do gì mà việc tăng cường thư giãn hoặc giảm lo lắng lại có thể có hại được? Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chương trình này nâng cao tính sáng tạo và sự hiểu biết. Và một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Psychosomatic Medicine (Y học về Tinh thần cơ thể) nhận thấy rằng tỉ lệ nhập viện về cơ bản trong tất cả các loại bệnh đã giảm ở những người thực hành Kỹ thuật Thiền Siêu Việt. Điều này đúng không chỉ đối với những bệnh về thể chất mà theo báo cáo của các nhà nghiên cứu là giảm tổng thể đến 50% trong tỉ lệ nhập viện, mà nghiên cứu này cũng bao gồm tỷ lệ nhập viện giảm đáng kế đối với các bệnh về tinh thần và lạm dụng các sản phẩm gây nghiện.

So sánh với việc thư giãn[sửa | sửa mã nguồn]

Một loạt các thay đổi về sinh lý học có lợi thường xảy ra trong quá trình thực hành Kỹ thuật Thiền Siêu Việt, các thay đổi phân biệt sự thực hành kĩ thuật này với thư giãn đơn thuần và các hình thức thiền khác. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc thực hành Thien Sieu Viet tạo ra một trạng thái nghỉ ngơi sâu hơn nhiều so với thư giãn đơn thuần, và cũng sâu hơn việc thực hành các hình thức thiền khác. Các nghiên cứu đều thống nhất cho thấy nhịp thở giảm một cách tự nhiên trong quá trình thực hành kỹ thuật Thien Sieu Viet, cao hơn các phương pháp kiểm soát 25%, và sức chịu dựng (đề kháng) cơ bản của da – sự đo cơ bản sức đề kháng điện cơ của da mà các bác sĩ mảng tâm thần sinh lý học thường đo để chuẩn đoán bệnh (một phương pháp đo sự thư giãn) cao hơn đến 70%.

"Các chỉ số sinh lý học của sự nghỉ ngơi sâu cũng bao gồm những thay đổi rõ rệt về thể tích hô hấp, sự trao đổi không khí trong một phút, thể tích hít thở, lactat máu và nhịp tim. Các nghiên cứu chỉ ra rằng trạng thái sinh lý học độc đáo này giúp điều hòa cortisol và các hocmon khác lên quan đến stress kinh niên- và cũng điều hòa tốt hơn serotonin, một chất dẫn truyền thần kinh liên quan đến tâm trạng.

"Thậm chí quan trọng hơn, đo điện não đồ (EEG) cho thấy mức độ liên kết alpha cao trên toàn bộ não – tăng sự điều hợp và trật tự của chức năng não – càng làm cho kĩ thuật Thiền Siêu Việt khác với thư giãn thông thường và việc thực hành các hình thức thiền khác.

"Kỹ thuật Thiền Siêu Việt không phải là một tôn giáo hay triết lý và không liên quan đến sự thay đổi về lối sống."

Tác dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các nhà khoa học, thiền giúp cho người tập tăng cường trí nhớ, khả năng tư duy cũng như các chỉ số sáng tạo, kiên nhẫn, ý chí… sau mỗi buổi tập. Bên cạnh đó, thiền cũng giúp các bậc cha mẹ giảm stress và lo lắng, tăng cường sức khỏe, sự trẻ trung... sau một ngày làm việc căng thẳng với nhiều áp lực từ công việc, gia đình và xã hội.[2]

Cải thiện chức năng não[sửa | sửa mã nguồn]

"Kỹ thuật Thiền Siêu Việt (TM) giúp cho tâm trí lắng đọng một cách nhẹ nhàng, tự nhiên trong trạng thái minh mẫn và thư giãn. Cùng lúc đó, bán cầu trái, bán cầu phải, não trước và não sau hoạt động hài hòa cùng nhau. Trạng thái minh mẫn này của não có tương quan với việc cải thiện trí nhớ, khả năng xử lí vấn đề và đưa ra những quyết định. Sự thay đổi trong hoạt động của não bộ sẽ tương tác đến chức năng sinh lí, giảm tình trạng huyết áp cao, củng cố tim mạch, và cải thiện toàn bộ sức khỏe"

Gia tăng sử dụng các chất dự trữ não:
Trong suốt quá trình Thiền Định, các tế bào cảm giác trên võ não_ tác nhân kích thích cảm giác cơ thể sẽ được phân bố rộng khắp vỏ não, nhờ vậy, cả bộ não sẽ tham gia tạo ra các hoạt động phản ứng trước một tác nhân kích thích.[8]

Sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta đã chứng minh được rằng Kỹ thuật Thiền Siêu Việt là phương pháp hiệu quả và cần thiết nhất trong việc chăm sóc sức khỏe. Hiện nay chưa có phương pháp nào giúp tăng cường sinh lực, giảm chi phí chăm sóc y tế và thuốc men hiệu quả bằng Thiền Siêu Việt"

Giảm tình trạng cao huyết áp. Các bệnh nhân cao huyết áp tập chương trình Thiền Siêu Việt có biểu hiện giảm đáng kể về huyết áp tâm thu và tâm trương sau ba tháng, so với những bệnh nhân đã được chỉ định kỹ thuật không theo nguyên tắc hoặc những bênh nhân đã trải qua quá trình giáo dục sức khỏe hướng dẫn về phương pháp làm giảm huyết áp thông qua chế độ ăn kiêng và rèn luyện thể dục.[9]

Tăng Khả Năng Tập trung[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ thuật Thiền Siêu Việt gia tăng sự tĩnh lặng – và khi bạn yên tĩnh là lúc duy nhất có thể suy nghĩ, là lúc duy nhất để bạn có thể tập trung. Khi bạn có sự sao lãng và tiếng ồn nào đó trong đầu bạn, bạn không thể nhận thức thấu đáo và bạn không thể nào làm thành công công việc của bạn. Khả năng nhận thức thấu đáo chỉ đến từ trạng thái tĩnh lặng, khả năng tập trung đến từ trạng thái yên lặng, và Kỹ thuật Thiền Siêu Việt là quá trình tập luyện để đạt đến trạng thái tĩnh lặng đó trong vài phút hai lần mỗi ngày."

Tính độc lập có sự tương quan với khả năng tiếp thu và cấu thành cảm nhận, tổ chức càng rộng về trí óc và về tính rõ ràng trong nhận thức thì trí nhớ càng được cải thiện, sự thể hiện khả năng sáng tạo càng cao, và sự cân bằng có thể ổn định.Các kết quả cho thấy rằng sự tập luyện kỹ thuật Thiền Siêu Việt phát triển tính độc lập cao hơn. Trước đây người ta từng cho rằng những khả năng cơ bản thuộc tri giác trên không thể cải thiện được đối với những người đã ngoài tuổi trưởng thành nhưng với việc tập Thiền Siêu Việt sự cải thiện này vẫn thể hiện rõ rệt.[10]

Tăng Tính sáng tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu này đã sử dụng Thử nghiệm Torrance về Tư duy sáng tạo nhằm đánh giá khả năng sáng tạo bằng lời và hình ảnh trong một nhóm được tiêu chuẩn hóa và trong một nhóm đã tập kỹ thuật Thiền Siêu Việt. Thời gian sau 5 tháng thử nghiệm, nhóm luyện tập kỹ thuật Thiền Siêu Việt đã đạt được chỉ số cao hơn đáng kể về khả năng sáng tạo hình ảnh và sự linh hoạt cũng như sự lưu loát trong lời nói.[11]

David Lynch (1946-), một nhà làm phim đạt nhiều giải thưởng, ông cũng là nhiếp ảnh gia, hoạ sĩ, và là tác giả của tác phẩm Bắt con cá lớn: Sự suy ngẫm, Khả năng nhận biết và Tính sáng tạo (Catching the Big Fish: Meditation, Consciousness and Creativity) "Tôi không bao giờ bỏ qua việc luyện tập thiền trong suốt 34 năm. Tôi thường ngồi thiền một lần vào buổi sáng và một lần vào buổi chiều trong khoảng 20 phút mỗi lần. Khi thực hiện các công việc trong ngày của tôi tôi phát hiện niềm vui trong lúc làm việc tăng lên, tính sáng tạo gia tăng, khả năng trực giác cũng tăng, sự lạc quan về cuộc sống cũng được nâng lên, và tính tiêu cực giảm xuống.

Tăng Trầm tĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu cho thấy những cá nhân rèn luyện kỹ thuật Thiền Siêu Việt thì sức đề kháng (sức chịu đựng: da có các điện cực dẫn điện tạo ra điện thế của da, các bác sĩ thuộc mãng tâm thần sinh lý học đo độ dẫn của da xác định sức chịu đựng của da để chuẩn đoán bệnh) của da tăng lên đáng kể trong suốt quá trình luyện tập. Sức chịu đựng của da là tiêu chuẩn đánh giá điện sinh lý để xác định trạng thái bình tĩnh và thư giản.

Tăng tính tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Mindy Weisel – một nghệ sĩ mà các tác tác phẩm nghê thuât của anh được treo tại các viện bảo tàng và các trụ sở trên khắp thế giới, gồm có Bảo tàng Smithsonian, Hirshhorn Bảo tàng quốc gia về Nghệ thuật của Mỹ, Bảo tàng Israel, Thủ đô Mỹ, và Bảo tàng Nghệ thuật Baltimore.

"Giờ đây tôi thấy hạnh phúc và sáng tạo hơn như tôi đã từng tưởng tượng. Tôi chỉ mong ước rằng tôi đã tập luyện thiền Thiền Siêu Việt cách đây nhiều năm, điều mà trước đây tôi chưa từng nghĩ rằng chúng ta có thể học được! Thật là một niềm vui khi đã được học và biết về Kỹ thuật Thiền Siêu Việt – Thật là một kỹ thuật vô cùng đơn giản và tự nhiên"

Khả năng tự thực hiện liên quan đến quá trình nhận biết nhiều trong số những khả năng tiềm ẩn bên trong của một người được thể hiện ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Một phân tích thống kê về tất cả các cuộc nghiên cứu hiện có – 42 nghiên cứu– đã chỉ ra rằng hiệu quả của kỹ thuật Thiền Siêu Việt này đối với việc gia tăng khả năng tự thể hiện đáng kể hơn so với các hình thức tịnh tâm khác. Phân tích thống kê này đã kiểm chứng về kết quả lâu dài của nghiên cứu và chất lượng của thiết kế nghiên cứu. Tham khảo: Chuyên đề về Giao Tiếp Xã Hội và Cá Nhân - Journal of Social Behavior and Personality 6: 189-248, 1991

Cải thiện các mối quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Th.S/ BS NancynLonsdorf, Chuyên gia huấn luyện về sức khoẻ phụ nữ, Johns Hopkins "Hoạt động luyện tập thiền Thiền Siêu Việt đều đặn không chỉ giúp lắng đọng tâm trí mà còn giúp làm dịu và nuôi dưỡng tim mạch. Kết quả là khả năng nhận thức về người khác càng cao thì tính hòa hợp, tính tử tế và tình yêu thương càng tăng. Các bà mẹ bảo tôi rằng các con họ nhắc nhở họ tập thiền – Tôi nghĩ rằng điều đó nói lên tất cả"

Khả năng nhận thức cao hơn về người khác Những người đang luyện tập Chương trình Thiền Siêu Việt đạt chỉ số tích cực hơn đáng kể qua cách họ đánh giá những người quan trọng trong cuộc đời họ, khi so sánh với những người không luyện tập Thiền Siêu Việt.[12]

Tăng khả năng tự thể hiện[sửa | sửa mã nguồn]

"Nếu hoà bình thật sự đến với thế giới này, thì nó sẽ phải bắt đầu từ mỗi cá nhân. Một thế giới hoà bình được tạo nên bởi từng cá nhân, là những người mà đang sử dụng hoàn toàn khả năng tiềm ẩn của họ. Kỹ thuật Thiền Siêu Việt là một yếu tố xúc tác cho hoà bình (vì một thế giới hòa bình cần có sự hội tụ của những cá nhân yêu hòa bình). Nếu càng có nhiều người luyện tập thiền hơn, thì thế giới sẽ trở nên hoà bình hơn.

Sự bình yên nội tâm. Một phân tích thống kê về 42 nghiên cứu độc lập – đã cho thấy rằng ảnh hưởng của kỹ thuật Thiền Siêu Việt đối với việc gia tăng khả năng tự thể hiện cao hơn một cách đáng kể so với những hình thức tịnh tâm khác.[13]

Những lợi ích đặc biệt cho não bộ[sửa | sửa mã nguồn]

TS. Fred Travid, Bác sĩ về thần kinh, Giám đốc trung tâm MUM (Đại Học Quản Lý Maharishi - Maharishi University of Management[14]) chuyên về Não bộ, Ý thức và Khả năng nhận thức đã nói rằng: "Chúng ta cần một bộ não hoà hợp, khoẻ mạnh để có thể xác định được chúng ta đang ở đâu, quyết định nơi chúng ta muốn đến, và sau đó là quyết định các bước để đi đến đó". Tầm quan trọng của một bộ não "hoà hợp" là gì?

TS. Fred Travis là giám đốc Trung tâm chuyên nghiên cứu về Não bộ, Ý thức, và khả năng nhận thức tại Đại học Quản trị Maharishi (Maharishi University of Management - MUM) tại Fairfield, Iowa – Trung tâm này là trung tâm nghiên cứu lớn nhất thế giới chuyên nghiên cứu các ảnh hưởng của luyện tập thiền đối với chức năng não bộ của các học viên đang theo học tại đó. Nghiên cứu của Bác sĩ Travis đã được công bố trên trang bìa của các tạp chí danh tiếng hàng đầu của nước Mỹ.

Các Tiến sĩ đã nói gì về cách mà kỹ thuật Thiền Siêu Việt này kích thích đến "chức năng điều hòa não bộ"? Điều đó có ý nghĩa như thế nào – và tại sao nó lại quan trọng"?

Mỗi vùng khác nhau trong não bộ có những chức năng khác nhau như nhìn, nghe, suy nghĩ, cảm xúc – liên quan đến sự giận dữ hay vui vẻ – hành động, quyết định, lên kế hoạch. Khi não của bạn khoẻ mạnh, tất cả những vùng này hoạt động cùng nhau – chúng trở nên "hoà hợp". Trạng thái hoà hợp vô cùng quan trọng vì thế giới, môi trường xung quanh bạn, đang thay đổi liên tục. Bạn cần một bộ não khoẻ mạnh, hoà hợp mà có thể xác định chúng ta đang ở đâu, quyết định nơi chúng ta muốn đến, và sau đó là quyết định các bước để đến được đó. Có phải toàn bộ não bộ có liên quan đến các quyết định như thế?

Phần quan trọng nhất của não bộ dành cho quá trình đánh giá toàn bộ thông tin gọi là thùy trước hay còn gọi là vỏ não liên kết. Bộ phận này của não không nhận được bất kỳ thông tin trực tiếp nào từ bên ngoài – nó nhận thông tin từ các giác quan mang lại thông qua việc nghe, nhìn, tiếp xúc v.v. Thùy trước giống như một người dẫn đường mang tài năng từ các khu vực khác nhau của ban nhạc và sắp xếp cho tất cả trở thành một dàn nhạc.

Có cuộc thảo luận đáng chú ý về trạng thái căng thẳng và chức năng của não. Điều gì sẽ xảy đến khi não bộ gặp phải trạng thái căng thẳng.

TS Travis: Cảm giác căng thẳng kiềm hãm các thuỳ trước khiến chúng không thể phát triển. Và những cảm xúc căng thẳng mà tôi được biết đều có liên quan đến các trường hợp nghiện rượu và thuốc chữa bệnh, trường hợp lớn lên trong gia đình đỗ vỡ, sống trong nỗi sợ hãi về bạo lực và tội ác, thậm chí là liên quan đến chế độ ăn kém dinh dưỡng. Và khi các thùy trước của một người không phát triển, thì người đó sẽ sống một cuộc sống nguyên thuỷ. Anh ta sẽ không thể thực hiện - và không thực hiện được dự định phía trước. Thế giới của anh ta trở nên giản dị thái quá, và anh ta chỉ có thể xử lý những gì hiện đang xảy đến với anh ta. Đó là nơi mà tư duy cứng nhắc xuất hiện: " Hoặc là cùng với tôi hoặc chống lại tôi", hay " tôi và những người cùng phe với tôi là tốt nhất, và tất cả những người khác chống đối lại chúng tôi"

Điển hình là những trường hợp liên quan đến rượu. Việc uống rượu sẽ huỷ hoại toàn bộ các tế bào não và cắt đứt các kết nối với thùy trước. Các kết nối giữa thuỳ trước và các vùng não khác bắt đầu phát triển khi bạn đến độ tuổi 12 hoặc 13 sau đó chúng tiếp tục phát triển khi bạn bước vào giai đoạn cuối tuổi 20 và đầu tuổi 30. Vì vậy nếu bạn đã bắt đầu uống bia rượu khi còn đi học nghĩa là bạn đang làm một điều tệ hại đối với não của bạn – và cả cuộc đời bạn nữa.

Thùy trước không được hoạt hoá trong não bộ sẽ khiến cho con người có tính cách bạo lực, có tính bốc đồng, không thể kiểm soát các hành động của mình. Một lần nữa, những người này có tầm nhìn nguyên thủy về thế giới. Đối với họ chỉ là – " Tôi nhìn thấy thỏi sôcôla, tôi lấy thỏi sôcôla. Tôi nhìn thấy xe hơi, tôi lấy xe hơi. Gã này nhìn tôi là lạ, tôi sẽ đến hạ đo ván hắn ta". Đó chính là thế giới của họ.

Não luôn luôn thay đổi suốt quá trình trải qua các cảm xúc trong đời. Dù cho các cảm xúc này xảy đến trong quá khứ đã làm ngắt đứt các mạch nối của não ra sao đi nữa, thì não cũng có thể được làm thay đổi nếu bạn chọn những trải nghiệm cảm xúc mới cụ thể.

BS. Travis: Chẳng hạn như Chương trình Thiền Siêu Việt này. Nghiên cứu cho thấy rằng kỹ thuật nhập thiền này mang đến cảm xúc mới đặc biệt hơn trên cơ sở trí óc linh hoạt. Đây là trạng thái thức tỉnh bên trong mà không cần đến những khả năng hay đặc tính đặc biệt nào. Và theo như nghiên cứu, cảm xúc mới này tạo nên chức năng hoà hợp ở những vùng trước của não. Thật vậy, phương pháp thiền là kỹ thuật duy nhất có khả năng rèn luyện cho phần quan trọng này của não – nhằm làm cho não khoẻ hơn và có thể thực hiện chức năng cùng nhau như một thể thống nhất.

Trong vòng hai hoặc ba tháng luyện tập Kỹ thuật Thiền Siêu Việt, chúng ta bắt đầu thấy mức độ hoà hợp cao ở tính kết nối của não trước. Và thật thú vị, sự hoà hợp đó không biến mất sau quá trình luyện tập kỹ thuật Thiền Siêu Việt này – càng gia tăng và qua thời gian, chức năng não được phát triển trong sinh hoạt hàng ngày. Nghiên cứu cho thấy rằng ở những người đã và đang luyện tập thiền trong nhiều năm – trung bình là 24 năm – sự tỉnh táo bên trong và trạng thái hoà hợp của não được duy trì mọi lúc. Và, đúng như thế, điều này sẽ trở thành mục đích của sự giáo dục. Quá trình giáo dục sẽ không chỉ nói về sự nhân lên của việc học hay các bảng thời khoá biểu. Nó cũng sẽ trau dồi về chức năng não hoà hợp để bạn sẽ có thể đưa ra những quyết định sáng suốt hơn, đánh giá tình huống chính xác hơn, và tận hưởng cuộc sống nhiều hơn trong suốt cuộc đời bạn.

Các Bác sĩ nói rằng thật là quan trọng để bắt đầu quá trình này trong suốt những năm chúng ta còn đi học. Tại sao thế?

BS. Travis: Trong 20 năm đầu của cuộc đời, những kết nối giữa các tế bào não đang gia tăng và giảm xuống, năng suất đang xung mãn, và tốc độ của quá trình đạt được nhanh hơn. Đây là thời điểm lý tưởng để xây dựng các mạch trong não bộ mà sẽ kéo dài cả cuộc đời. Sau đó, khi một sinh viên hoàn tất việc học của anh ta ở tuổi 25 với bằng cấp Thạc sĩ hay Tiến sĩ, anh ta sẽ không chỉ làm chủ một lĩnh vực cụ thể trong đời sống mà còn làm chủ chính cuộc sống. Tư duy đúng sẽ phát sinh từ cấp độ cơ bản nhất, sâu nhất của cuộc đời. Sau đó, một cách tự động, các hành động sẽ diễn ra phù hợp theo tư duy – hoà hợp với môi trường và mọi người xung quanh. Đây là trạng thái của sự khai sáng – và đây là tầm nhìn rộng về các khả năng thích hợp cho bất kỳ sinh viên nào, bất kể tuổi tác, tôn giáo, hay quốc tịch, khi chương trình luyện tập thiền trở thành một phần của chương trình giảng dạy ở trường học.

" Thật là một niềm vui khi được học về kỹ thuật thiền này – một kỹ thuật thật tự nhiên và dễ dàng như thế. Giờ đây tôi trở nên sáng tạo hơn rất nhiều so với những gì tôi đã từng tưởng tượng" – Mindy Weisel, một nữ Hoạ sĩ có tên tuổi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

[1] ^ a b c d e f "Founding and History of Maharishi University of Management". Mum.edu. http://www.webcitation.org/5rcR3gnSf. Retrieved 2009-11-16.
[2]Trang web Thiền Siêu Việt/ http://www.thiensieuviet.org

  1. ^ [1]
  2. ^ a ă http://www.giaoduc.edu.vn/news/giao-duc-phat-trien-728/thien-sieu-viet-mot-giai-phap-cho-cuoc-song-hien-dai-129179.aspx
  3. ^ [2] Cults, world religions, and the occul. Wheaton, Ill.: Victor Books. p. 201. ISBN 978-0-89693-823-6
  4. ^ a ă ((Chú thích sách | last1 = Chryssides | first1 = George D. | authorlink = George D. Chryssides | title = Tìm hiểu các tôn giáo mới | năm = 1999 | publisher = Cassell | vị trí = London | ISBN = 978-0-8264-5959 - 6 | các trang = 293-296 | Gurl = http://books.google.com/?id=jxIxPBpGMwgC&pg=PA293&dq = # v = onepage & q =))
  5. ^ ((Chú thích sách | last1 = Russell | first1 = Peter H. | authorlink = Peter Russell (tác giả) | title = "The TM Technique" | năm = 1976 | publisher = Routledge Kegan Paul PLC | vị trí = | ISBN = 0-7100-8539 -7 | page = 134 | url = http://books.google.com/?id=TZ89AAAAIAAJ&printsec=frontcover&dq=The+TM+Technique&q= }}
  6. ^ Dawson, Lorne L. (2003). Blackwell Publishing Professional. tr. 54. ISBN 1-4051-0181-4.  Đã bỏ qua tham số không rõ |Tiêu đề= (gợi ý |tiêu đề=) (trợ giúp); |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  7. ^ Chryssides, George D.; Margaret Lucy Wilkins (2006). A reader in new religious movements. London: Continuum. tr. 7. ISBN 0-8264-6167-0. 
  8. ^ Sinh lí học con người(1999)- Human Physiology 2: trang 171 – 180
  9. ^ Tham khảo tài liệu: Chứng tăng huyết áp - Hypertension 2: trang 820-827, 1995
  10. ^ Tham khảo tài liệu: Những kỹ năng về vận động và tri giác - Perceptual and Motor Skills 39: trang 1031-1034, 1974
  11. ^ Tham khảo: Chuyên đề về hành vi sáng tạo - Journal of Creative Behavior 13: 169-190, 1979
  12. ^ Tham khảo: Những kỹ năng vận động và cảm giác - Perceptual and Motor Skills 64: 1003 – 1012, 1987
  13. ^ Tham khảo: Chuyên đề về hành vi và tính cách giao tiếp xã hội - Journal of Social Behavior and Personality (1991)
  14. ^ [3]