Tomoe Gozen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tomoe Gozen qua nét vẽ của Kikuchi Yōsai (1781-1878).

Tomoe Gozen (巴御前 Ba Ngự Tiền?) (11571247), đọc là [tomo.e], là một nữ chiến binh samurai (onna bugeisha) và cũng là ái thiếp của Minamoto no Yoshinaka,[1] nổi tiếng với sự dũng cảm và sức mạnh kinh người của mình.[2] Bà được cho là đã chiến đấu và sống sót sau cuộc chiến tranh Genpei (1180-1185). Ngoài ra, từ Gozen luôn đính kèm sau tên bà không phải là họ mà là một cách dùng kính ngữ, một từ dùng để tôn xưng những người phụ nữ có vị thế cao trong xã hội.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bức Tomoe Gozen xuất trận đồ của họa sĩ Shitomi Kangetsu hiện được lưu tại Viện Bảo tàng Quốc gia Tokyo.

Theo sử sách thì Tomoe Gozen là một người phụ nữ có vẻ đẹp thanh tú với làn da trắng và suối tóc đen dày, sống vào khoảng cuối thời Heian đầu thời Kamakura. Heike Monogatari (平家物語 Bình gia vật ngữ?, Truyện kể Heike) còn cho biết, Gozen là một nữ cung thủ với tay gươm đầy sức mạnh và có phần vượt trội so với nam giới. Các tài liệu lịch sử đều ghi lại rằng, bà luôn xuất hiện với dáng vẻ thật gan dạ phi thường và võ thuật tinh anh, là cánh tay phải đắc lực để hỗ trợ bên cạnh các trận chiến của đức lang quân Yoshinaka:

Tomoe đặc biệt xinh đẹp, da trắng, tóc dài, tài nghệ xuất chúng. Nàng dương được cung cứng, trên bộ hay trên lưng ngựa đều múa kiếm chọi nổi quỷ thần, sức địch nghìn người. Lại biết trị được ngựa chứng và điều khiển chúng leo lên dốc đứng. Khi lâm trận, Kiso thường cho nàng mang giáp dày, đao to, cung cứng ra làm đại tướng. Lần nào cũng không ai lập công lớn hơn nàng. Bây giờ trong đám bảy thớt kỵ còn lại sau khi tất cả đã chết hoặc chạy thoát, cũng vẫn có nàng...
Chuyện kể Heike[3]

Sau khi đánh đuổi nhà Taira đến tận các tỉnh miền Tây, Minamoto no Yoshinaka (chồng của Tomoe) liền chiếm lấy Kyoto nhưng lại tỏ ra hợm hĩnh, vô mưu, say mê nữ sắc, gieo rắc sự bất mãn trong đám công khanh để rồi phải chết thảm trong cánh rừng tùng ở Awazu dưới tay những người đồng minh cũ của mình. Trong số các kẻ thù mà Minamoto no Yoritomo phải tiêu diệt trên con đường trở thanh shogun của mình bao gồm cả người em họ của ngài là Yoshinaka. Dù cả hai người có quan hệ huyết thống, nhưng những vinh quang của Yoshinaka khi đánh bại Taira vào năm 1183 đã khiến ông trở thành kẻ thù của Yoritomo. Vì vậy, Yoritomo đã phái em trai mình là Yoshitsune dẫn quân đến đối phó với Yoshinaka vào năm 1184.

Tuy có sự trợ chiến đắc lực của một nữ chiến binh xinh đẹp Tomoe Gozen với chiến công chặt đầu một samurai đối thủ là Honda no Moroshige của Musashi trong trận Awazu.[4] Bà cũng được biết đến vì đã giết chết Uchida Ieyoshi và bị Hatakeyama Shigetada bắt sống khi đang trên đường chạy trốn.[5] Dù chiến đấu dũng cảm nhưng binh lực chênh lệch quá lớn nên cuối cùng Yoshinaka vẫn bị Yoshitsune đánh cho đại bại trong trận chiến tại UjiAwazu. Sức cùng lực kiệt, Yoshinaka đành phải tháo chạy thoát thân, bên cạnh chỉ còn lại một vài binh sĩ cùng tùy tùng, thấy rằng khó mà tránh khỏi sinh ly tử biệt, ông nói với Tomoe Gozen nên trốn đi vì ông muốn chết với người anh em kết nghĩa Imai no Shiro Kanehira và sẽ nhục nhã đến thế nào nếu chết bên cạnh một người phụ nữ. Kể từ đó không rõ số phận của bà ra sao nữa.

Thực hư thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tomoe Gozen nghênh chiến với Uchida Ieyoshi và Hatakeyama no Shigetada. Tranh khắc gỗ của Yōshū Chikanobu, 1899

Tính cách của Tomoe Gozen được khắc họa rõ nét trên chiến trận của samurai. Sự độc đáo này khiến bà trở thành một huyền thoại trong suốt chiều dài lịch sử của nước Nhật. Nhưng cũng có những tương truyền bí ẩn về cô. Đầu tiên là mối quan hệ của bà và Yoshinaka đã được đề cập tới không rõ ràng. Một phiên bản kể về thời kỳ của Heike Monogatari nhắc đến bà như là một gia khách hay một người hầu. Trong bản dịch của Sadler mô tả bà là một phụ nữ đẹp từ những suy đoán có thể bà là gia sư của Yoshinaka hay thậm chí là "người vợ chiến binh" của ông ấy. Tuy nhiên, hoàn toàn không có sự mập mờ trong lời kể lại các chiến công của bà. Lời thuật lại quá trình chiến đấu của Tomoe trong trận chiến Awazu trong Heike Monogatari ngắn gọn đến mức có thể kể lại toàn bộ câu chuyện một cách dễ dàng. Điều thú vị hơn là chương nhắc tới bà, với tiêu đề "Cái chết của Kiso" lại bắt đầu bằng việc Yoshinaka đã mang theo bên mình từ Shinano không chỉ một "mỹ nhân" mà những 2 người. Người còn lại là Yamabuki Gozen nhưng đã ngã bệnh phải ở lại kinh thành tịnh dưỡng.

Có những phiên bản khác nhau về cuộc đời của Tomoe sau trận đánh cuối cùng của mình. Có chuyện kể lại rằng, sau trận đánh Awazu vào năm 1184, Tomoe đã giết chết Uchida Ieyoshi rồi từ bỏ thanh kiếm của mình. Nhưng cũng có câu chuyện lể rằng Tomoe đã bị đánh bại bởi Wada Yoshimori và phải trở thành vợ của samurai này. Sau khi Wada qua đời, Tomoe đã trở thành một nữ tu ở Echizen. Chính những câu chuyện khác nhau này khiến cho sự thật về Tomoe càng trở nên bí hiểm hơn. Ngoài những đoạn nhỏ kể về Yamabuki Gozen, trong các nghiên cứu về gunkimono (truyện ký quân nhân) của Paul Varley chỉ có thể tìm một nguồn tham khảo khác về nữ samurai này. Đó là trong cuốn Genpei Seisuki (源平盛衰記 Nguyên Bình thịnh suy ký?), câu chuyện kể về cái chết của Kiso Yoshinaka, và Tomoe được kể rằng đã bị giết chết nhiều năm trước đó. Bên cạnh đó còn có các thất bản khác kể về Tomoe như một nữ chiến binh, xông pha chiến trường để trả thù cho người mình yêu, hoặc sau khi giết giặc thì bà đã đi tu.

Ảnh hưởng văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bia tưởng niệm Tomoe ở Gichū-ji, Ōtsu, Shiga

Là một trong những ví dụ rất hiếm về nữ chiến binh trong lịch sử Nhật Bản, Tomoe đã được thể hiện thành nhiều nhân vật trong một vài bộ animephim truyền hình.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gozen is an honorific signifying rank, respect and gender -- see Modes of Address. Nihon Zatsuroku: An Online Japanese Miscellany. March 27, 2004; retrieved 25 Jan 2011.
  2. ^ Nussbaum, Louis Frédéric et al. (2005). "Tomoe Gozen" in Japan Encyclopedia, p. 984. tại Google Books
  3. ^ McCullough, Helen Craig. (1988). The Tale of the Heike, p. 291. tại Google Books; Kitagawa, Hiroshi et al. (1975). The Tale of the Heike, p. 519.
  4. ^ Faure, Bernard. (2003). The Power of Denial: Buddhism, Purity, and Gender, p. 211 tại Google Books; Kitagawa, p. 521.
  5. ^ Joly, Henri L. (1967). Legend in Japanese Art, p. 540.
  6. ^ The works of Jessica Amanda Salmonson. Violet Books. Accessed 25 July 2009.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]